TRÔI DẠT XA RA
VENICE ĐÃ TRỞ THÀNH BẢO TÀNG NHƯ THẾ NÀO
NHÓM CÁC ĐẢO tạo thành Venice nằm ở niềm cực bắc Biển Adriatic. Trong
Thời Trung Cổ, Venice có lẽ đã là nơi giàu nhất thế giới, với bộ tiên
tiến nhất của các thể chế kinh tế bao gồm, do tính bao gồm chính trị mới
nảy sinh làm nòng cốt. Nó được độc lập vào năm 810 SCN, vào lúc hóa ra
là một thời tình cờ. Nền kinh tế châu Âu đang phục hồi từ sự sa sút mà
nó đã phải chịu vì sự sụp đổ của Đế chế La Mã, và các vua như
Charlemagne đang tổ chức lại quyền lực chính trị tập trung mạnh. Việc
này đã dẫn đến sự ổn định, sự an toàn lớn hơn, và một sự mở rộng thương
mại, mà Venice đã ở vị thế độc nhất vô nhị để tận dụng. Nó đã là quốc
gia của các thủy thủ, nằm đúng giữa Địa Trung Hải. Hàng hóa đến từ
phương Đông là gia vị, các hàng hóa chế tác Byzantine và nô lệ. Venice
đã trở nên giàu có. Vào năm 1050, khi Venice đã được mở rộng rồi về mặt
kinh tế trong ít nhất một thế kỷ, nó đã có dân số 45.000 người. Con số
này đã tăng 50 phần trăm lên 70.000 người vào năm 1200. Vào năm 1330 dân
số lại tăng thêm 50 phần trăm lên 110.000 người; Venice thời đó đã lớn
như Paris, và có lẽ bằng ba lần London.
Một trong những cơ sở then chốt cho sự mở rộng kinh tế của Venice đã là
một loạt những đổi mới về hợp đồng làm cho các thể chế kinh tế mang
tính bao gồm hơn nhiều. Đổi mới nổi tiếng nhất đã là commenda, một loại sơ đẳng của công ty cổ phần, mà đã hình thành chỉ trong thời gian của một thương vụ duy nhất. Một commenda bao
gồm hai đối tác, một đối tác “tĩnh tại” ở lại Venice, và một đối tác
chu du. Đối tác tĩnh tại bỏ vốn vào vụ kinh doanh mạo hiểm, trong khi
đối tác chu du áp tải hàng hóa. Một cách điển hình, đối tác tĩnh tại bỏ
phần lớn vốn. Các doanh nhân trẻ mà bản thân họ không có của cải, khi đó
đã có thể tham gia vào kinh doanh thương mại bằng cách đi áp tải hàng
hóa. Nó đã là kênh chủ chốt để thăng tiến về mặt xã hội. Bất cứ thiệt
hại nào xảy ra trong chuyến buôn được chia theo tỷ lệ vốn góp. Nếu
chuyến buôn có lời, lợi nhuận dựa vào hai loại hợp đồng commenda. Nếu commenda là
đơn phương, thì đối tác tĩnh tại bỏ 100 phần trăm vốn và hưởng 75 phần
trăm lợi nhuận. Nếu hợp đồng là song phương, đối tác tĩnh tại bỏ 67 phần
trăm vốn và hưởng 50 phần trăm lợi nhuận. Nghiên cứu các tài liệu chính
thức, ta thấy commenda đã là một lực mạnh đến thế nào trong cổ
vũ sự thăng tiến về mặt xã hội: những tài liệu này đầy các tên mới,
những người trước đó đã không thuộc về giới elite ở Venice. Trong các
tài liệu của chính phủ trong các năm 960, 971, và 982 SCN, số tên mới
chiếm một cách tương ứng 69 phần trăm, 81 phần trăm, và 65 phần trăm của
những người được ghi chép.
Tính bao gồm kinh tế này và sự trỗi dậy của các gia đình mới thông qua
thương mại đã buộc hệ thống chính trị trở nên thậm chí mở hơn. Tổng
trấn, người điều hành Venice, được Đại Hội (General Assembly) bầu suốt
đời. Mặc dù là một đại hội của tất cả công dân, trên thực tế Đại Hội bị
thống trị bởi một nhóm cốt lõi gồm các gia đình hùng mạnh. Mặc dù tổng
trấn đã rất hùng mạnh, quyền lực của ông đã bị giảm từ từ theo thời gian
bởi những thay đổi về thể chế chính trị. Sau năm 1032, tổng trấn được
bầu cùng với một Hội đồng Công tước (Ducal Council) mới được lập ra, mà
công việc của nó cũng là để đảm bảo tổng trấn không nắm được quyền lực
tuyệt đối. Tổng trấn đầu tiên bị hội đồng này bao vây, Domenico
Flabianico, đã là một nhà buôn tơ lụa giàu có từ một gia đình mà trước
đó đã không giữ chức cao. Sự thay đổi thể chế này được kế tiếp bởi một
sự mở rộng to lớn của thương mại và sức mạnh hải hải quân Venice. Trong
năm 1082, Venice đã được ban những đặc quyền rộng rãi tại
Constantinople, và một khu Venice đã được lập ra ở thành phố đó. Nó mau
chóng trở thành chỗ ở cho mười ngàn người Venice. Ở đây chúng ta thấy
các thể chế kinh tế và chính trị bao gồm bắt đầu hoạt động cùng nhau.
Sự mở rộng kinh tế của Venice, mà đã tạo ra áp lực nhiều hơn cho thay
đổi chính trị, đã bùng nổ sau những thay đổi về thể chế chính trị và
kinh tế tiếp sau vụ ám sát tổng trấn năm 1171. Đổi mới quan trọng đầu
tiên đã là việc tạo ra một Đại Hội Đồng (Great Council), mà trở thành
nguồn cuối cùng của quyền lực chính trị ở Venice từ thời điểm này trở
đi. Hội đồng được cấu thành từ các viên chức trong nhà nước Venice, như
các thẩm phán, và đã bị áp đảo bởi các nhà quý tộc. Ngoài các viên chức
này ra, mỗi năm một trăm thành viên mới được chỉ định vào hội đồng bởi
một ủy ban bổ nhiệm mà bốn thành viên ủy ban được lựa chọn bằng cách rút
thăm từ hội đồng hiện tại. Hội đồng sau đó cũng chọn thành viên cho hai
tiểu hội đồng, Thượng viện và Hội đồng Bốn Mươi, mà đã có các nhiệm vụ
lập pháp và hành pháp khác nhau. Đại Hội Đồng cũng chọn ra Hội đồng Công
tước, mà đã được mở rộng từ hai đến sáu thành viên. Đổi mới thứ hai là
việc thành lập một hội đồng nữa, được Đại Hội Đồng chọn bằng cách rút
thăm, để bổ nhiệm tổng trấn. Mặc dù, sự lựa chọn phải được Đại Hội phê
chuẩn, vì họ đề cử bổ nhiệm một người duy nhất, việc này thực ra trao
quyền lựa chọn tổng trấn cho hội đồng. Đổi mới thứ ba đã là, tổng trấn
mới phải tuyên thệ nhậm chức mà hạn chế quyền lực công tước [của ông].
Theo thời gian các hạn chế này đã được mở rộng đến mức các tổng trấn
tiếp theo đã phải tuân theo các thẩm phán, rồi phải để Hội đồng Công
tước phê chuẩn mọi quyết định của mình. Hội đồng Công tước cũng đã nắm
vai trò để đảm bảo rằng tổng trấn tuân theo tất cả các quyết định của
Đại Hội Đồng.
Những cải cách chính trị này đã dẫn đến một loạt nữa của những đổi mới
thể chế: về luật, việc tạo ra các thẩm phán độc lập, các tòa án, tòa
thượng thẩm, và hợp đồng tư nhân mới và luật phá sản. Các thể chế kinh
tế mới này của Venice đã cho phép tạo ra các hình thức kinh doanh hợp
pháp mới và các loại hợp đồng mới. Đã có một sự đổi mới tài chính nhanh
chóng, và chúng ta thấy sự khởi đầu của hoạt động ngân hàng hiện đại
quanh thời gian này ở Venice. Venice năng động đang tiến tới các thể chế
hoàn toàn bao gồm đã có vẻ là không thể ngăn được.
Nhưng đã có một sự căng thẳng trong tất cả chuyện này. Sự tăng trưởng
kinh tế được ủng hộ bởi các thể chế bao gồm của Venice đã đi cùng với sự
phá hủy sáng tạo. Mỗi làn sóng mới của những thanh niên táo bạo những
người trở nên giàu có qua commenda hay các thể chế kinh tế
tương tự đã có xu hướng làm giảm lợi nhuận và thành công kinh tế của các
elite có uy quyền đã được thiết lập. Và những người mới này đã không
chỉ làm giảm lợi nhuận của họ mà cũng thách thức quyền lực chính trị của
họ. Như thế đã luôn luôn có một sự cám dỗ, nếu họ có thể thoát khỏi nó,
cho các elite hiện hành đang ngồi trong Đại Hội Đồng để đóng cửa hệ
thống đối với những người mới này.
Ngay từ khi thành lập Đại Hội Đồng, tư cách thành viên được xác định
mỗi năm. Như chúng ta đã thấy, vào cuối mỗi năm, bốn thành viên được
chọn một cách ngẫu nhiên để chỉ định một trăm thành viên cho năm tiếp
theo, những người được chọn một cách tự động. Ngày 3-10-1286, một kiến
nghị được đệ trình cho Đại Hội Đồng rằng các quy tắc được sửa đổi sao
cho các việc chỉ định phải được phê chuẩn bởi đa số của Hội đồng Bốn
mươi, mà được kiểm soát chặt chẽ bởi các gia đình elite. Việc sửa đổi
này sẽ cho giới elite này quyền phủ quyết đối với những sự bổ nhiệm mới
vào hội đồng, quyền mà trước kia họ đã không có. Kiến nghị đã bị đánh
bại. Ngày 5-10-1286, một kiến nghị khác được đệ trình; lần này nó được
thông qua. Kể từ đó trở đi đã có sự xác nhận tự động của một cá nhân nếu
bố và ông của người đó đã phục vụ trong hội đồng. Khác đi, thì đòi hỏi
sự xác nhận của Hội đồng Công tước. Ngày 17 tháng Mười, một sự thay đổi
khác về quy tắc đã được thông qua, quy định rằng một sự bổ nhiệm vào Đại
Hội Đồng phải được sự chuẩn y của Hội đồng Bốn mươi, tổng trấn và Hội
đồng Công tước.
Các cuộc tranh luận và những sửa đổi hiến pháp của năm 1286 đã báo trước La Serrata (“Sự
Đóng cửa”) của Venice. Tháng Hai 1297, đã được quyết định rằng nếu bạn
đã là thành viên của Đại Hội Đồng trong bốn năm trước, bạn nhận được sự
bổ nhiệm và chuẩn y tự động. Những sự bổ nhiệm mới bây giờ phải được Hội
đồng Bốn mươi phê chuẩn, nhưng chỉ với mười hai phiếu. Sau 11-9-1298
các thành viên hiện thời và gia đình họ không còn cần xác nhận nữa. Đại
Hội Đồng trên thực tế bây giờ đã bị gắn xi lại đối với người ngoài, và
những người giữ chức ban đầu đã trở thành một tầng lớp quý tộc kế
truyền. Dấu xi cho việc này đã đến vào năm 1315, với Libro d’Oro (“Sách Vàng”), mà là nơi đăng ký chính thức của giới quý tộc Venice.
Những người ngoài giới quý tộc mới sinh này đã không để quyền lực của
họ bị xói mòn mà không có sự chiến đấu. Những căng thẳng chính trị đã
tăng lên đều đặn ở Venice giữa 1297 và 1315. Đại Hội Đồng đã phản ứng
lại một phần bằng cách làm cho nó lớn hơn. Trong một nỗ lực để bầu các
đối thủ lớn tiếng nhất vào, nó đã phát triển từ 450 lên 1.500. Sự mở
rộng này đã được bổ sung bằng đàn áp. Một lực lượng cảnh sát đã được đưa
vào lần đầu tiên trong năm 1310, và đã có sự gia tăng đều đặn về áp bức
nội địa, không nghi ngờ gì như một cách để củng cố trật tự chính trị
mới.
Sau khi đã thực hiện một Serrata chính trị, rồi Đại Hội Đồng chuyển sang chấp nhận một Serrata kinh
tế. Việc chuyển sang các thể chế chính trị khai thác bây giờ được tiếp
theo bởi bước đi theo hướng các thể chế kinh tế khai thác. Quan trọng
nhất họ đã cấm việc sử dụng hợp đồng commenda, một trong những đổi mới thể chế vĩ đại mà đã làm cho Venice giàu có. Điều này không ngạc nhiên: commeda đã
làm lợi cho các thương gia mới, và bây giờ elite đã được củng cố muốn
loại trừ họ ra. Đấy đã chỉ là một bước theo hướng các thể chế kinh tế
khai thác hơn. Một bước khác đến khi, bắt đầu từ năm 1314, nhà nước
Venice bắt đầu tiếp quản và quốc hữu hóa thương mại. Nó đã tổ chức các
thuyền galley của nhà nước để làm thương mại và, từ 1324 trở đi, bắt đầu
đánh các mức thuế cao những cá nhân muốn làm thương mại. Thương mại
đường dài đã trở thành việc riêng của giới quý tộc. Đấy là khởi đầu của
sự kết thúc thịnh vượng của Venice. Với các ngành kinh doanh chính bị
độc quyền hóa bởi giới elite ngày càng hẹp, sự sa sút đang tiến triển.
Venice có vẻ đã sắp sửa trở thành xã hội bao gồm đầu tiên của thế giới,
nhưng nó đã bị rơi một cú [bị đảo chính]. Các thể chế chính trị và kinh
tế trở nên khai thác hơn, và Venice đã bắt đầu trải qua sự suy tàn kinh
tế. Vào năm 1500 dân số đã sụt xuống còn một trăm ngàn người. Giữa 1650
và 1800, khi dân số của châu Âu đã tăng nhanh, dân số của Venice đã co
lại.
Ngày nay hoạt động kinh tế duy nhất mà Venice có, bên cạnh một chút
nghề cá, là du lịch. Thay cho đi tiên phong mở các con đường buôn bán và
các thể chế kinh tế, những người Venice làm pizza và kem và thổi thủy
tinh màu cho các đám người nước ngoài. Khách du lịch đến Venice để xem
các kỳ quan trước-Serrata của Venice, như Dinh Tổng trấn và các
con sư tử của Nhà thờ St. Mark, mà đã được cướp từ Byzantium khi Venice
cai trị vùng Địa Trung hải. Từ một cường quốc Venice đã biến thành một
viện bảo tàng.
TRONG CHƯƠNG NÀY chúng ta tập trung vào sự phát triển lịch sử của các
thể chế ở các phần khác nhau của thế giới và giải thích vì sao chúng đã
tiến hóa theo những cách khác nhau. Chúng ta đã thấy trong chương 4 các
thể chế của Tây Âu đã phân kỳ ra sao với các thể chế của Đông Âu và sau
đó các thể chế của nước Anh đã phân kỳ thế nào khỏi các thể chế của các
nước còn lại của Tây Âu. Đấy đã là hệ quả của những khác biệt nhỏ về thể
chế, chủ yếu như kết quả từ một sự trôi dạt thể chế tương tác với các
bước ngoặt. Có thể cám dỗ khi đó để nghĩ rằng những sự khác biệt thể chế
này là đỉnh của một tảng băng lịch sử sâu, nơi dưới mặt nước chúng ta
thấy các thể chế Anh và Âu châu trôi dạt một cách không thể lay chuyển
nổi khỏi các thể chế ở các nơi khác, dựa trên các sự kiện lịch sử truy
nguyên lại hàng ngàn năm. Phần còn lại, như họ nói, là lịch sử.
Ngoại trừ rằng nó không phải vậy, vì hai lý do. Thứ nhất, các bước tiến
đến các thể chế bao gồm, như tường thuật của chúng ta về Venice cho
thấy, có thể bị đảo ngược. Venice đã trở nên phồn vinh. Nhưng các thể
chế chính trị và kinh tế của nó bị lật đổ, và sự thịnh vượng đó đảo
ngược. Ngày nay Venice giàu chỉ bởi vì những người kiếm được thu nhập
của họ ở nơi khác chọn tiêu ở đó để thán phục vẻ huy hoàng của quá khứ
của nó. Sự thực rằng các thể chế bao gồm có thể đảo ngược cho thấy rằng
không có một quá trình tích tụ đơn giản của sự cải thiện thể chế.
Thứ hai, những sự khác biệt nhỏ về thể chế mà đóng vai trò cốt yếu
trong các bước ngoặt, do bản chất của chúng là phù du. Bởi vì chúng là
nhỏ, chúng có thể đảo ngược, rồi lại có thể xuất hiện lại và bị đảo
ngược lại một lần nữa. Chúng ta sẽ thấy trong chương này rằng, ngược với
cái ta có thể kỳ vọng từ các lý thuyết địa lý hay văn hóa, nước Anh,
nơi bước quyết định đến các thể chế bao gồm xảy ra trong thế kỷ thứ mười
bảy, đã là một nơi ao tù nước đọng, không chỉ trong hàng ngàn năm tiếp
sau Cách mạng đồ Đá Mới ở Trung Đông mà cả vào đầu của Thời Trung Cổ,
tiếp sau sự sụp đổ của Đế chế Tây La Mã. Các hòn đảo Anh đã không đáng
kể đối với Đế chế La Mã, chắc chắn ít quan trọng hơn Tây Âu lục địa, Bắc
Phi, vùng Balkan, Constantinople, hay Trung Đông. Khi Đế chế Tây La Mã
sụp đổ trong thế kỷ thứ năm sau công nguyên, Anh đã chịu sự suy tàn toàn
diện nhất. Nhưng các cuộc cách mạng mà cuối cùng đã mang lại Cách mạng
Công nghiệp đã xảy ra không phải ở Italy, Thổ Nhĩ Kỳ, hay thậm chí ở tây
Âu lục địa, mà là ở các hòn đảo Anh.
Trong việc hiểu con đường đến Cách mạng Công nghiệp của nước Anh và các
nước đi theo nó, di sản của La Mã (Rome) tuy vậy là quan trọng vì nhiều
lý do. Thứ nhất, La Mã, giống Venice, đã trải qua những đổi mới thể chế
ban đầu trọng đại. Như ở Venice, thành công kinh tế ban đầu của La Mã
đã dựa trên các thể chế bao gồm – chí ít theo tiêu chuẩn của thời ấy.
Như ở Venice, các thể chế này đã trở nên khai thác hơn một cách dứt
khoát theo thời gian. Với La Mã, điều này đã là hệ quả của sự thay đổi
từ chế độ Cộng Hòa (510 TCN – 49 TCN) sang Đế chế (49 TCN – 476 SCN).
Cho dù trong thời kỳ Cộng hòa, La Mã đã xây dựng một đế chế bề thế, và
buôn bán đường dài và giao thông đã hưng thịnh, phần lớn nền kinh tế La
Mã đã dựa trên sự khai thác. Sự chuyển đổi từ cộng hòa sang đến chế đã
làm tăng sự khai thác và cuối cùng đã dẫn đến loại đấu đá nội bộ, bất ổn
định, và sụp đổ mà chúng ta đã thấy với các thành-quốc Maya.
Thứ hai và quan trọng hơn, chúng ta sẽ thấy rằng sự phát triển thể chế
tiếp theo của Tây Âu, mặc dù đã không là một sự thừa kế trực tiếp của La
Mã, đã là một hệ quả của các bước ngoặt mà đã phổ biến khắp khu vực
theo sau sự sụp đổ của Đế chế Tây La Mã. Các bước ngoặt đã có ít sự
giống nhau ở các phần khác của thế giới, như châu Phi, châu Á, hay châu
Mỹ, mặc dù chúng ta cũng chứng tỏ thông qua lịch sử Ethiopia rằng khi
các nơi khác có trải qua các bước ngoặt tương tự, đôi khi chúng phản ứng
lại theo những cách giống nhau một cách rõ rệt. Sự suy sụp La Mã đã dẫn
đến chủ nghĩa phong kiến, mà, như một sản phẩm phụ, đã làm cho chế độ
nô lệ teo đi, đã tạo ra các thành phố nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng của
các quốc vương và các quý tộc, và trong quá trình tạo ra một bộ các thể
chế nơi quyền lực chính trị của những kẻ cai trị bị yếu đi. Chính là
trên nền tảng phong kiến này mà Cái Chết Đen tạo ra sự tàn phá và củng
cố thêm các thành phố độc lập và các nông dân gây thiệt hại cho các vua,
các quý tộc, và các địa chủ lớn. Và chính là trên cái nền này mà các cơ
hội được tạo ra bởi thương mại Đại Tây Dương đang diễn ra. Nhiều phần
của thế giới đã không trải qua những thay đổi này, và vì thế đã trôi dạt
xa ra.
CÁC ĐỨC HẠNH LA MÃ …
Người bảo vệ dân thường La Mã, Tiberius Gracchus, đã bị đánh bằng gậy
đến chết vào năm 133 TCN bởi các thượng nghị sĩ La Mã và xác ông đã bị
quẳng xuống sông Tiber không có nghi thức nào. Những người giết ông đã
là các quý tộc giống như bản thân Tiberius, và vụ ám sát đã được lên kế
hoạch bởi người em họ của ông, Publius Cornelius Scipio Nasica. Tiberius
Gracchus đã có một dòng dõi quý tộc hoàn hảo như một hậu duệ của một số
lãnh đạo lừng danh của Cộng hòa La Mã, kể cả Lucius Aemillius Paullus,
anh hùng của các cuộc chiến tranh Illyrian và Punic thứ Hai, và Scipio
Africanus, vị tướng đã đánh bại Hannibal trong Chiến tranh Punic thứ
Hai. Vì sao các thượng nghĩ sĩ hùng mạnh của thời ông, ngay cả em họ của
ông, đã quay lại chống ông?
Câu trả lời cho ta biết nhiều về những căng thẳng trong Cộng hòa La Mã
và các nguyên nhân của sự suy sụp sau đó của nó. Cái khiến cho Tiberius
đọ sức với các thượng nghị sĩ hùng mạnh này đã là sự sẵn sàng của ông để
đứng lên chống lại họ trong một vấn đề cốt yếu của thời đó: sự phân bổ
đất và các quyền của những dân thường (plebeian), các công dân La Mã
bình thường.
Vào thời của Tiberius Gracchus, La Mã là một nền cộng hòa đã có từ lâu.
Các thể chế chính trị của nó và các đức hạnh của những người lính-công
dân La Mã – như được thể hiện bởi bức tranh nổi tiếng, Lời thề của nhà Horatii,
của Jacques-Louis David, mà cho thấy những người con thể với cha mình
rằng họ sẽ bảo vệ Cộng Hòa La Mã đến hơi thở cuối cùng – vẫn được nhiều
sử gia coi như nền tảng thành công của nền cộng hòa. Các công dân La Mã
đã lập ra nền cộng hòa bằng cách lật đổ vua của họ, Lucius Tarquinius
Superbus, được biết đến như Tarquin người Tự hào, vào khoảng 510 TCN.
Nền cộng hòa đã thiết kế một cách tài tình các thể chế chính trị của nó
với nhiều yếu tố bao gồm. Nó được cai trị bởi các quan viên (magistrate)
được bầu cho một năm. Sự thực rằng chức vụ quan viên được bầu chọn hàng
năm, và nhiều người đồng thời giữ chức ấy đã làm giảm khả năng của bất
cứ một cá nhân nào để củng cố hay lạm dụng quyền lực của mình. Các thể
chế của nền cộng hòa đã chứa một hệ thống kiểm soát và cân bằng mà đã
phân phối quyền lực một cách khá rộng. Điều này đã là thế cho dù không
phải tất cả công dân đã có sự đại diện ngang nhau, vì việc bỏ phiếu đã
là gián tiếp. Cũng đã có rất nhiều nô lệ thiết yếu cho việc sản xuất ở
phần lớn Italy, có lẽ chiếm đến một phần ba dân số. Các nô lệ tất nhiên
chẳng có quyền gì, nói chi đến sự đại diện chính trị.
Dẫu sao, như ở Venice, các thể chế chính trị La Mã đã có các yếu tố đa
nguyên. Các dân thường đã có đại hội riêng của họ được gọi là Đại Hội
Dân Thường (Plebeian Assembly), mà đã có thể bầu ra người bảo vệ dân
thường (plebeian tribune) của mình, người có quyền phủ quyết các hành
động của các quan viên. Chính các dân thường đã đưa Tiberius Gracchus
lên nắm quyền của người bảo vệ dân thường trong năm 133 TCN. Sức mạnh
của họ đã được rèn bởi “sự ly khai”, một dạng đình công của dân thường,
đặc biệt của binh lính, những người có thể bỏ đi đến một quả đồi ở bên
ngoài thành phố và từ chối hợp tác với các quan viên cho đến khi những
khiếu nại của họ được giải quyết. Sự đe dọa này tất nhiên là đặc biệt
quan trọng trong thời chiến. Được cho rằng chính trong một sự ly khai
như vậy vào thế kỷ thứ năm trước công nguyên mà các công dân đã có được
quyền để bầu người bảo vệ của họ và thông qua các luật để cai quản cộng
đồng của mình. Sự bảo vệ chính trị và pháp lý của họ, cho dù bị hạn chế
theo các tiêu chuẩn hiện thời của chúng ta, đã tạo ra các cơ hội kinh tế
cho các công dân và một mức độ bao gồm nào đó trong các thể chế kinh
tế. Kết quả là, thương mại khắp vùng Địa Trung Hải đã hưng thịnh dưới
Nền cộng hòa La Mã. Bằng chứng khảo cổ học gợi ý rằng trong khi đa số
công dân và nô lệ đã sống không cao hơn mức tồn tại qua ngày là mấy, thì
nhiều người La Mã, kể cả một số công dân thường, đã đạt thu nhập cao,
với sự tiếp cận đến các dịch vụ công như hệ thống thoát nước và đèn
đường của thành phố.
Hơn nữa, có bằng chứng rằng cũng đã có sự tăng trưởng kinh tế nào đó ở
Cộng hòa La Mã. Chúng ta có thể theo dõi sự thịnh vượng kinh tế của Cộng
hòa La Mã từ các vụ đắm tàu. Đế chế mà những người La Mã xây dựng theo
một nghĩa nào đó đã là một mạng lưới các thành phố cảng – từ Athens,
Antioch, và Alexandria ở phía đông; qua Rome, Carthage, và Cadiz; suốt
lộ trình đến London ở cực tây. Khi các lãnh thổ La Mã mở rộng, thương
mại và đội tàu cũng thế, mà có thể tìm thấy dấu vết từ các vụ đắm tàu
được các nhà khảo cổ học tìm thấy dưới đáy Địa Trung Hải. Các xác tàu
đắm này có thể được định niên đại bằng nhiều cách. Các tàu thường chở
các vò hai quai chứa đầy rượu hay dầu ô liu, được chuyển từ Italy sang
Gaul, hay dầu ô liu Tây Ban Nha để bán hay phát không ở Rome. Các vò hai
quai, là các bình làm bằng đất sét nung được gắn xi, thường chứa thông
tin về ai đã làm ra chúng và làm khi nào. Ngay gần sông Tiber ở Rome có
một quả núi nhỏ, Monte Testaccio, cũng được biết đến như Monte dei Cocci
(“Núi Gốm”), được tạo thành bởi khoảng năm mươi ba triệu vò hai quai.
Khi các vò được dỡ xuống từ các tàu, chúng được bỏ lại, trong hàng thế
kỷ đã tạo thành một quả đồi lớn.
Các hàng hóa khác trên tàu và bản thân chiếc tàu đôi khi có thể được
định niên đại bằng sử dụng phương pháp carbon phóng xạ, một kỹ thuật
mạnh được các nhà khảo cổ học sử dụng để xác định tuổi của các di vật
hữu cơ. Các thực vật tạo ra năng lượng bằng quang hợp, mà sử dụng năng
lượng mặt trời để biến carbon dioxite thành đường. Khi chúng làm việc
này, các thực vật kết hợp một lượng isotope phóng xạ có sẵn trong tự
nhiên, carbon-14. Sau khi thực vật chết, carbon-14 giảm đi do phân rã
phóng xạ. Khi các nhà khảo cổ học tìm thấy một chiếc tàu đắm, họ có thể
định niên đại gỗ vỏ tàu bằng cách so sánh phần carbon-14 trong đó với
phần được kỳ vọng từ carbon-14 khí quyển. Việc này cho một ước lượng về
thời điểm khi cây gỗ bị đốn. Chỉ khoảng 20 vụ đắm tàu đã được định niên
đại lâu như năm 500 TCN. Đấy có lẽ đã không phải là các tàu La Mã, và
rất có thể là của người Cartaginian, chẳng hạn. Nhưng sau đó số các tàu
La Mã đắm đã tăng lên nhanh chóng. Vào khoảng thời gian [chúa Jesus]
Christ sinh ra, chúng đạt đỉnh điểm 180 vụ tàu đắm.
Các tàu đắm là một cách thuyết phục để vạch ra tình trạng kinh tế của
Cộng hoà La Mã, và chúng có cho thấy bằng chứng về sự tăng trưởng kinh
tế nào đó, nhưng phải giữ chúng đúng với thực trạng. Có lẽ hai phần ba
nội dung của các tàu đã là tài sản của nhà nước La Mã, các khoản thuế và
cống nạp được mang từ các tỉnh về Rome, hay ngũ cốc và dầu ô liu từ Bắc
Phi để phát không cho các công dân của thành phố. Chính [vỏ của] những
thành quả này của sự khai thác là cái phần lớn đã làm nên Monte
Testaccio.
Một cách quyến rũ khác để tìm bằng chứng về sự tăng trưởng kinh tế là
từ Dự án Lõi Băng Greenland. Khi các bông tuyết rơi xuống, chúng mang
theo một lượng nhỏ các chất ô nhiễm không khí, đặc biệt là các kim loại
chì, bạc và đồng. Tuyết đông cứng lại và chất đống trên đỉnh lớp tuyết
rơi trong các năm trước đã biến thành băng. Quá trình này xảy ra liên
tục hàng ngàn năm, và cung cấp một cơ hội vô song cho các nhà khoa học
để hiểu mức độ ô nhiễm không khí hàng ngàn năm trước. Trong các năm
1990-1992, Dự án Lõi Băng Greenland đã khoan xuống xuyên qua 3.030 mét
băng phủ khoảng 250.000 năm lịch sử loài người. Một trong những khám phá
chính của dự án này, và những nghiên cứu trước nó, là, đã có một sự
tăng lên rõ rệt của các chất ô nhiễm không khí bắt đầu từ khoảng năm 500
TCN. Lượng chì, bạc, và đồng trong không khí khi đó đã tăng đều đặn,
đạt một đỉnh vào thế kỷ đầu tiên sau công nguyên. Thật đáng chú ý, mức
chì này trong không khí lại đạt được chỉ vào thế kỷ thứ mười ba. Những
khám phá này cho thấy việc khai mỏ La Mã đã mạnh đến thế nào, so với
tình trạng trước và sau nó. Đợt bột phát này trong khai mỏ cho thấy một
cách rõ ràng sự mở rộng kinh tế.
Nhưng sự tăng trưởng La Mã đã không bền vững, xảy ra dưới các thể chế
một phần bao gồm và một phần khai thác. Mặc dù các công dân La Mã đã có
các quyền chính trị và kinh tế, tình trạng nô lệ đã phổ biến và rất khai
thác, và giới elite, tầng lớp nghị sĩ, thống trị cả nền kinh tế lẫn
hoạt động chính trị. Bất chấp sự hiện diện của Đại hội Dân thường và
người bảo vệ dân thường, chẳng hạn, quyền lực thật vẫn do Thượng viện
nắm, mà các thành viên của nó đã là các địa chủ lớn tạo thành tầng lớp
nghị sĩ. Theo sử gia La Mã Livy, Thượng Viện được lập ra bởi vua đầu
tiên của La Mã, Romulus, và gồm một trăm người đàn ông. Các hậu duệ của
họ tạo thành tầng lớp nghị sĩ, mặc dù cũng có thêm dòng dõi mới tham
gia. Sự phân bổ đất đã rất không đều và rất có khả năng còn bất bình
đẳng hơn vào thế kỷ thứ hai trước công nguyên. Đấy là gốc rễ của vấn đề
mà đã đưa Tiberius Gracchus lên phía trước với tư cách người bảo vệ dân
thường.
Khi sự mở rộng của nó ra khắp vùng Địa Trung Hải tiếp tục, La Mã đã
trải qua một sự tràn vào của những của cải lớn. Nhưng của cải hậu hĩ này
phần lớn đã bị một số ít gia đình giàu có trong hàng ngũ nghị sĩ chiếm
lấy, và sự bất bình đẳng giữa người giàu và người nghèo đã tăng lên. Các
nghị sĩ đã có sự giàu sang không chỉ do họ kiểm soát các tỉnh màu mỡ
của mình mà cũng còn do các bất động sản và ruộng đất rất lớn của họ
khắp Italy. Các bất động sản ruộng đất này được cung cấp người bởi các
toán nô lệ, thường là những người bị bắt trong các cuộc chiến tranh mà
La Mã đã tiến hành. Nhưng các bất động sản ruộng đất này đến từ đâu cũng
quan trọng ngang thế. Các đội quân La Mã trong thời Cộng hòa đã gồm các
công dân-binh lính những người là các chủ đất nhỏ, đầu tiên ở Rome và
sau đó ở các phần khác của Italy. Theo truyền thống họ chiến đấu trong
quân đội khi cần và sau đó quay về mảnh đất của mình. Khi La Mã mở rộng
và các chiến dịch kéo dài hơn, thì mô hình này đã ngừng hoạt động. Những
người lính xa mảnh đất của họ đôi khi hàng năm, và nhiều miếng đất được
chiếm hữu đã bị bỏ không. Các gia đình binh sĩ đôi khi đối mặt với hàng
núi nợ nần và trên bờ vực chết đói. Nhiều miếng đất vì thế dần dần bị
bỏ không và bị sáp nhập vào ruộng đất của các nghị sĩ. Khi tầng lớp nghị
sĩ ngày càng giàu lên, số đông các công dân không có đất, đã tập trung
về Rome, thường sau khi được giải ngũ khỏi quân đội. Không còn miếng đất
cắm dùi nào để quay về, họ tìm việc làm ở Rome. Vào cuối thế kỷ thứ hai
TCN, tình trạng đã đạt đến điểm sôi nguy hiểm, cả bởi vì khoảng cách
giàu nghèo đã rộng ra đến mức chưa từng có, lẫn bởi vì đã có hàng đàn
công dân bất mãn ở Rome sẵn sàng nổi loạn đáp lại những sự bất công này
và quay sang chống lại giới quý tộc La Mã. Nhưng quyền lực chính trị lại
tùy thuộc vào các địa chủ giàu có của tầng lớp nghị sĩ, những người đã
được hưởng lợi của những thay đổi đã diễn ra hơn hai thế kỷ qua. Đa số
họ không có ý định nào về thay đổi hệ thống mà đã phục vụ họ tốt đến
vậy.
Theo sử gia La Mã Plutarch, Tiberius Gracchus, khi chu du khắp Etruria,
một vùng bây giờ là trung tâm Italy, đã biết về khó khăn mà các gia
đình công dân-binh lính phải chịu đựng. Bất luận bởi vì kinh nghiệm này
hoặc bởi vì những va chạm khác với các nghị sĩ hùng mạnh của thời ông,
ngay sau đó ông đã bắt đầu lao vào một kế hoạch táo bạo để thay đổi sự
phân bổ đất ở Italy. Ông đã đại diện cho người bảo vệ thường dân trong
năm 133 TCN, sau đó sử dụng chức vụ này để đề xuất cải cách ruộng đất:
một ủy ban sẽ điều tra xem liệu đất công có bị chiếm một cách bất hợp
pháp hay không và sẽ chia lại số đất vượt mức hạn điền hợp pháp ba trăm
mẫu cho các công dân La Mã không có ruộng. Mức hạn điền ba trăm mẫu thực
ra đã là phần của một luật cũ, mặc dù đã bị bỏ qua và không được thực
hiện trong hàng thế kỷ. Kiến nghị của Tiberius Gracchus gây ra làn sóng
sốc trong tầng lớp nghị sĩ, những người đã có khả năng ngăn cản việc
thực hiện các cải cách của ông trong một thời gian. Khi Tiberius
Gracchus sử dụng sức mạnh đám đông ủng hộ ông để đuổi một người bảo vệ
dân thường khác, người đã đe dọa phủ quyết cuộc cải cách ruộng đất của
ông, ủy ban mà ông đề xuất cuối cùng đã được thành lập. Thượng Viện, tuy
vậy, đã ngăn cản việc thực hiện bằng cách bỏ đói nguồn tài chính của ủy
ban, không cấp tài chính cho nó.
Tình hình lên đến cực đỉnh khi Tiberius Gracchus đòi số tiền, mà vua
của thành phố Hy Lạp Pergamun đã để lại cho nhân dân La Mã, cho ủy ban
của ông. Ông cũng đã thử ứng cử làm người bảo vệ dân thường thêm một lần
thứ hai, một phần bởi vì ông sợ bị Thượng Viện ngược đãi sau khi ông từ
chức. Việc này đã trao cớ cho Thượng Viện để buộc tội rằng Tiberius đã
âm mưu tự phong mình làm vua. Ông và những người ủng hộ ông đã bị tấn
công, và nhiều người đã bị giết. Bản thân Tiberius Gracchus đã là một
trong những người đầu tiên bị đổ, nhưng cái chết của ông đã không giải
quyết được vấn đề, và những người khác sẽ thử cải cách ruộng đất và các
khía cạnh khác của nền kinh tế và xã hội La Mã. Nhiều người sẽ đối mặt
với số phận tương tự. Em trai của Tiberius Gracchus, chẳng hạn, cũng đã
bị các địa chủ giết hại, sau khi ông đảm nhiệm trọng trách của anh mình.
Những sự căng thẳng này lại nổi lên một cách định kỳ trong thế kỷ tiếp
theo – chẳng hạn, đã dẫn đến “Chiến tranh Xã hội” giữa năm 91 TCN và 87
TCN. Người bảo vệ hung hăng các lợi ích của giới nghị sĩ, Lucius
Cornelius Sulla, không chỉ đã đàn áp một cách độc ác những đòi hỏi thay
đổi mà cũng đã cắt xén một cách nghiêm trọng các quyền của người bảo vệ
dân thường. Cùng các vấn đề cũng là một yếu tố trung tâm trong sự ủng hộ
mà Julius Caesar đã nhận được từ nhân dân Rome trong cuộc chiến đấu của
ông chống lại Thượng Viện.
Các thể chế chính trị tạo thành cốt lõi của Nền cộng hòa La Mã đã bị
Julius Caesar lật đổ năm 49 TCN khi ông chuyển quân đoàn của mình qua
Rubicon, con sông tách các tỉnh La Mã vùng Cisalpine Gaul khỏi Italy.
Rome rơi vào tay Caesar, và một cuộc nội chiến khác đã nổ ra. Mặc dù
Caesar là người chiến thắng, ông đã bị giết bởi các nghị sĩ bất bình, do
Brutus và Cassius đứng đầu trong năm 44 TCN. Cộng hòa La Mã sẽ chẳng
bao giờ được tái tạo. Một cuộc nội chiến mới đã nổ ra giữa những người
ủng hộ Caesar, đặc biệt là Mark Anthony và Octavian, và các kẻ thù của
ông. Sau khi Anthony và Octavian chiến thắng, họ lại đánh lẫn nhau, cho
đến khi Octavian trở thành người chiến thắng ở trận Actium năm 31 TCN.
Vào năm sau, và suốt bốn mươi lăm năm tiếp theo, Octavian, được biết đến
sau năm 28 TCN như Augustus Caesar, đã cai trị La Mã một mình. Augustus
đã tạo ra Đế chế La Mã, mặc dù ông đã ưa tước công dân thứ nhất
(pricep) hơn, một loại “người thứ nhất giữa những người ngang nhau”, và
gọi chế độ là Principate (Nguyên thủ). Bản đồ 11 cho thấy Đế chế La Mã
với quy mô rộng nhất của nó vào năm 117 SCN. Nó cũng bao gồm sông
Rubicom, mà Caesar đã băng qua một cách định mệnh đến vậy.
Chính sự chuyển đổi này từ nền cộng hòa sang chế độ nguyên thủ, và sau
đó là đế chế trần trụi, đã gieo các hạt giống suy sụp của La Mã. Các thể
chế chính trị một phần bao gồm, mà đã tạo cơ sở cho thành công kinh tế,
dần dần đã bị xói mòn. Mặc dù Cộng hòa La Mã đã tạo ra một sân chơi
nghiêng có lợi cho tầng lớp nghị sĩ và những người La Mã giàu có khác,
nó đã không là một chế độ chuyên chế và đã chưa bao giờ tập trung nhiều
quyền lực đến vậy vào một chức vị. Những thay đổi được Augustus tháo ra,
như với Serrata ở Venice, đã có các hệ quả chính trị đầu tiên
nhưng sau đó sẽ có những hệ quả kinh tế đáng kể. Như một kết quả của
những thay đổi này, vào thế kỷ thứ năm SCN, Đế chế Tây La Mã, như phương
Tây gọi nó sau khi nó tách khỏi phương Đông, đã suy sụp về mặt kinh tế
và quân sự, và đã trên bờ vực sụp đổ.
… CÁC TẬT XẤU LA MÃ
Flavius Aetius đã là một trong các nhân vật rất ấn tượng vào cuối Đế
chế La Mã, được tung hô như “người La Mã cuối cùng” bởi Edward Gibbon,
tác giả của The Decline and Fall of Roman Empire (Sự Suy tàn và Sụp đổ của Đế chế La Mã).
Giữa năm 433 và 454 SCN, cho đến khi ông bị hoàng đế Valentinian III
giết, Aetius, một vị tướng, đã là người hùng mạnh nhất trong Đế chế La
Mã. Ông đã định hình cả chính sách đối nội lẫn đối ngoại, đã chiến đấu
một loạt trận đánh quan trọng chống lại những người dã man, và cả những
người La Mã khác trong các cuộc nội chiến. Ông đã là độc nhất giữa các
tướng hùng mạnh chiến đấu trong các cuộc nội chiến về việc không tìm
kiếm chức vị hoàng đế cho chính mình. Từ cuối thế kỷ thứ hai, nội chiến
đã trở thành sự thật phũ phàng của cuộc sống trong Đế chế La Mã. Giữa
cái chết của Marcus Aurelius trong năm 180 SCN cho đến sự sụp đổ của Đế
chế Tây La Mã trong năm 476 SCN, đã hầu như không có thập niên nào mà
không có một cuộc nội chiến hay một cuộc đảo chính cung đình chống lại
hoàng đế. Ít hoàng đế đã chết vì các nguyên nhân tự nhiên hay trong
chiến trận. Hầu hết đã bị giết bởi những kẻ cướp ngôi hay binh lính của
chính họ.
Sự nghiệp của Aetius minh họa những thay đổi từ Cộng hòa La Mã và Đế
chế ban đầu đến cuối Đế chế La Mã. Không chỉ sự dính líu của ông vào các
cuộc nội chiến liên miên và quyền lực của ông trong mọi khía cạnh công
việc của đế chế tương phản với quyền lực bị hạn chế hơn rất nhiều của
các vị tướng và các nghị sĩ trong các giai đoạn trước, mà nó cũng làm
nổi bật sự thịnh vượng của những người La Mã đã thay đổi căn bản thế nào
trong các thế kỷ ở giữa theo những cách khác nhau.
Vào cuối Đế chế La Mã, những người được gọi là dã man, mà ban đầu bị
thống trị và bị sáp nhập vào các đội quân La Mã hay bị sử dụng như các
nô lệ, bây giờ đã chi phối nhiều phần của đế chế. Như một thanh niên,
Aetius đã bị những người dã man bắt làm con tin, đầu tiên bởi những
người Goth dưới thời Alaric và sau đó bởi những người Hun. Các quan hệ
của La Mã với những người dã man này biểu thị tình hình đã thay đổi ra
sao từ thời Cộng hòa. Alaric đã cả là một kẻ thù tàn bạo lẫn là một đồng
minh, đến mức mà vào năm 405 ông ta đã được bổ nhiệm làm một trong
những tướng cấp cao của quân đội La Mã. Tuy vậy, sự dàn xếp đã là tạm
thời. Vào năm 408 Alaric đã chiến đấu chống lại những người La Mã, xâm
lăng Italy và cướp phá Rome.
Những người Hun cũng đã cả là những kẻ thù hùng mạnh và đôi khi là các
đồng minh của những người La Mã. Mặc dù họ cũng đã bắt Aetius làm con
tin, muộn hơn họ đã chiến đấu bên cạnh ông trong một cuộc nội chiến.
Nhưng những người Hun đã không đứng lâu ở một bên, và dưới thời Attila
họ đã đánh các trận lớn chống lại những người La Mã vào năm 451, ngay ở
bên kia sông Rhine. Lần này bảo vệ người La Mã đã là những người Goth,
dưới thời Theodoric.
Tất cả điều này đã không cản các elite La Mã thử thỏa hiệp vô nguyên
tắc với những người chỉ huy dã man, thường không để bảo vệ các lãnh thổ
La Mã, mà để giành ưu thế trong các cuộc tranh giành quyền lực nội bộ.
Thí dụ, những người Vandal, dưới vua của họ, Geiseric, đã tàn phá các
phần lớn của Bán đảo Iberian và sau đó đã chinh phục các vựa lúa La Mã ở
Bắc Phi từ năn 429 trở đi. Sự đáp lại của La Mã đối với việc này đã là
đề nghị cho con gái của hoàng đế Valentinian III làm một cô dâu cho
Geiseric. Lúc đó Geiseric đã kết hôn với con gái của một trong các nhà
lãnh đạo của những người Goth, nhưng điều này có vẻ đã không cản ông.
Ông đã hủy hôn với cái cớ rằng vợ ông đã thử ám sát ông và đã đuổi bà về
nhà bà sau khi cắt cả hai tai và mũi bà. May cho người sắp-là-cô dâu,
bởi vì tuổi trẻ của cô, nên cô được giữ ở Italy và đã chẳng bao giờ hoàn
tất việc kết hôn của cô với Geiseric. Muộn hơn cô kết hôn với một vị
tướng hùng mạnh khác, Petronius Maximus, người đạo diễn vụ giết Aetius
bởi hoàng đế Valentinian III, mà bản thân ông bị giết không lâu sau
trong một âm mưu được Maximus ngấm ngầm dự tính. Muộn hơn Maximus tuyên
bố mình là hoàng đế, nhưng triều đại của ông đã rất ngắn, chấm dứt bởi
cái chết của ông trong một cuộc tấn công của những người Vandal dưới
thời Geiseric chống lại Italy, mà đã thấy Rome thất thủ và bị cướp bóc
một cách man rợ.
VÀO ĐẦU thế kỷ thứ năm, những người dã man đã thật sự ở ngoài cổng. Một
số sử gia cho rằng nó đã là một hệ quả của những đối thủ kinh khủng hơn
mà những người La Mã đã phải đối mặt vào cuối Đế chế. Nhưng thành công
của những người Goth, Hun, và Vandal chống lại Rome đã là một triệu
chứng, không phải là nguyên nhân, của sự suy tàn của La Mã. Trong thời
Cộng hòa, La Mã đã phải đối phó với các đối thủ có tổ chức và đe dọa hơn
rất nhiều, như những người Carthagianinan. Sự suy tàn của La Mã, đã có
những nguyên nhân rất giống các nguyên nhân của các thành-quốc Maya. Các
thể chế chính trị và kinh tế ngày càng khai thác của La Mã đã gây ra sự
sụp đổ của nó bởi vì chúng đã gây ra sự đấu đá nội bộ kịch liệt và nội
chiến.
Nguồn gốc của sự suy tàn quay lại chí ít đến sự nắm quyền của Augustus,
mà khởi động những sự thay đổi khiến cho các thể chế chính trị mang
tính khai thác hơn nhiều. Đấy bao gồm những thay đổi về cấu trúc của
quân đội, mà làm cho việc ly khai là không thể, như thế loại bỏ một yếu
tố cốt yếu đảm bảo sự đại diện chính trị cho những người La Mã bình
thường. Hoàng đế Tiberius, người kế tiếp Augustus vào năm 14 SCN, đã bãi
bỏ Đại hội Dân thường và đã chuyển quyền lực của nó cho Thượng Viện.
Thay cho tiếng nói chính trị, các công dân La Mã bây giờ đã có của bố
thí cho không gồm lúa mì và, sau đó là dầu ô liu, rượu, thịt heo, và giữ
người dân được giải trí bởi các rạp xiếc và các cuộc tranh đua đấu sĩ.
Với những cải cách của Augustus, các hoàng đế đã bắt đầu dựa không nhiều
vào quân đội gồm các công dân-người lính, mà dựa vào Vệ binh
Praetorian, nhóm ưu tú của những người lính chuyên nghiệp do Augustus
lập ra. Bản thân Vệ binh mau chóng trở thành một kẻ môi giới độc lập
quan trọng về ai sẽ trở thành hoàng đế, thường thông qua không phải các
phương tiện hòa bình mà qua các cuộc nội chiến và âm mưu. Augustus cũng
đã củng cố tầng lớp quý tộc chống lại các công dân La Mã bình thường, và
sự bất bình đẳng gia tăng, mà đã là nòng cốt của xung đột giữa Tiberius
Gracchus và các nhà quý tộc, đã tiếp tục, có lẽ thậm chí còn được tăng
cường.
Sự tích tụ quyền lực ở trung tâm làm cho các quyền tài sản của những
người La Mã bình thường ít an toàn hơn. Đất của nhà nước cũng đã mở rộng
với đế chế như một hệ quả của sự tịch thu, và đã tăng lên mức nửa tổng
số đất đai ở nhiều phần của đế chế. Các quyền tài sản trở nên đặc biệt
bất ổn định bởi vì sự tập trung quyền lực vào tay hoàng đế và đoàn tùy
tùng của ông. Theo một hình mẫu không khác biệt quá với cái đã xảy ra ở
các thành-quốc Maya, sự đấu đá nội bộ quyết liệt để giành sự kiểm soát
vị trí hùng mạnh này đã tăng lên. Các cuộc nội chiến trở thành một sự cố
thường xuyên, thậm chí cả trước thế kỷ thứ năm hỗn loạn, khi những
người dã man trị vì tối cao. Thí dụ, Septimus Severus đã chiếm lấy quyền
lực từ Didius Julianus, người đã phong mình làm hoàng đế sau vụ ám sát
Pertinax vào năm 193 SCN. Servius, hoàng đế thứ ba trong cái gọi là Năm
của Năm Hoàng đế, sau đó đã tiến hành chiến tranh chống lại các địch thủ
của ông đòi quyền kế vị, các tướng Pescennius Niger và Clodius Albinus,
những người cuối cùng đã bị đánh bại trong các năm tương ứng 194 và 197
SCN. Servius đã tịch thu tất cả tài sản của các địch thủ thất trận của
ông trong nội chiến tiếp sau. Mặc dù các nhà cai trị có tài, như Trajan
(98 đến 117 SCN), Hadrian, và Markus Aurelius trong thế kỷ tiếp theo, đã
có thể kìm sự suy tàn, họ đã không thể, hay đã không muốn, xử lý các
vấn đề thể chế cơ bản. Chẳng ai trong những người này đã đề xuất việc bỏ
đế chế hay tái tạo lại các thể chế chính trị hiệu quả theo các đường
lối của Cộng hòa La Mã. Markus Aurelius, cho dù các thành công của ông,
lại được kế vị bởi con ông Comodus, người đã giống Caligula hay Nero hơn
là giống cha mình.
Sự bất ổn gia tăng đã là hiển nhiên từ cách bố trí và địa điểm của các
thị trấn và thành phố trong đế chế. Vào thế kỷ thứ ba SCN mọi thành phố
lớn trong đế chế đã phải có tường bảo vệ. Trong nhiều trường hợp, các
công trình tưởng niệm bị cướp phá để lấy đá, mà được dùng trong xây công
sự. Ở xứ Gaul trước khi những người La Mã đến vào năm 125 TCN, đã
thường xây các khu định cư trên đỉnh đồi, vì dễ bảo vệ. Với sự đến ban
đầu của La Mã, các khu định cư đã dời xuống đồng bằng. Trong thế kỷ thứ
ba, xu hướng này bị đảo ngược.
Theo cùng với sự bất ổn chính trị gia tăng là những thay đổi trong xã
hội mà đã chuyển các thể chế kinh tế theo hướng khai thác nhiều hơn. Mặc
dù tư cách công dân đã được mở rộng đến mức vào năm 212 SCN gần như tất
cả cư dân của đế chế đều là công dân, sự thay đổi này đã đi cùng với
những thay đổi về địa vị giữa các công dân. Bất cứ ý nghĩa nào mà đã có
thể là sự bình đẳng trước pháp luật đều đã bị xấu đi. Thí dụ, dưới triều
đại Hadrian (117 đến 138 SCN), đã có những khác biệt rõ ràng về các
loại luật được áp dụng cho các loại công dân La Mã khác nhau. Quan trọng
không kém là, vai trò của công dân đã hoàn toàn khác với vai trò đã có
trong những ngày của Cộng hòa La Mã, khi họ đã có thể sử dụng quyền lực
nào đó đối với các quyết định chính trị và kinh tế thông qua các đại hội
ở Rome.
Chế độ nô lệ vẫn còn liên tục khắp La Mã, mặc dù có một số tranh cãi về
liệu tỷ phần nô lệ trong dân cư có thực sự giảm hay không trong các thế
kỷ. Quan trọng ngang thế là, khi đế chế phát triển, ngày càng nhiều
người lao động nông nghiệp đã bị giảm xuống địa vị nửa-nô lệ và bị cột
chặt vào ruộng đất. Địa vị của những “colonus” nửa-nô lệ này được thảo luận sâu rộng trong các tài liệu pháp luật như các bộ luật Codex Theodosianus và Codex Justinianus, và có lẽ có xuất xứ trong triều đại Docletian (284 đến 305 SCN). Quyền của các chúa đất đối với các colonus đã tăng lên tuần tự. Hoàng đế Constantine trong năm 332 đã cho phép các chúa đất xích một colonus lại người mà họ tình nghi là thử bỏ trốn, và từ năm 365 SCN, các colonus đã không được phép bán các tài sản riêng của mình mà không có sự cho phép của chúa đất.
Hệt như chúng ta có thể sử dụng các tàu đắm và các lõi băng Greenland
để theo dõi sự mở rộng kinh tế của La Mã trong các thời kỳ đầu, chúng ta
cũng có thể sử dụng chúng để lần theo dấu vết suy tàn của nó. Vào năm
500 SCN, đỉnh của các tàu đắm từ 180 đã giảm xuống còn 20. Khi La Mã suy
tàn, thương mại Địa Trung Hải sụp đổ, và một số học giả cho rằng nó đã
không quay lại đỉnh điểm La Mã của nó cho đến thế kỷ thứ mười chín. Băng
Greenland kể một câu chuyện tương tự. Những người La Mã đã dùng bạc để
đúc tiền, chì đã có nhiều công dụng, kể cả để làm các ống và bộ đồ ăn.
Sau khi lên đỉnh điểm vào thế kỷ thứ nhất SCN, lượng chì, bạc và đồng
trong các lõi băng giảm xuống.
Kinh nghiệm về tăng trưởng kinh tế trong Cộng hòa La Mã đã thật ấn
tượng, cũng như các thí dụ khác về tăng trưởng dưới các thể chế khai
thác, như Liên Xô. Nhưng sự tăng trưởng đó đã bị hạn chế và không bền
vững, ngay cả khi đã tính đến rằng nó đã xảy ra dưới các thể chế một
phần bao gồm. Sự tăng trưởng đã dựa vào năng suất nông nghiệp tương đối
cao, các khoản cống nạp đáng kể từ các tỉnh, và thương mại đường dài,
nhưng nó đã không được trụ đỡ bởi tiến bộ công nghệ hay sự phá hủy sáng
tạo. Những người La Mã đã kế thừa một số công nghệ cơ bản, các công cụ
bằng sắt và vũ khí, sự biết đọc biết viết, cày trong nông nghiệp, và kỹ
thuật xây dựng. Những ngày ban đầu trong nền Cộng hòa, họ đã tạo ra
những công nghệ khác: xi măng xây nề, máy bơm, và bánh xe nước. Nhưng
sau đó, công nghệ đã trì trệ suốt thời kỳ của Đế chế La Mã. Trong chuyên
chở bằng tàu thuyền, chẳng hạn, đã có ít thay đổi trong thiết kế tàu
thuyền hay thừng chão, và những người La Mã đã chẳng bao giờ phát triển
bánh lái đuôi tàu, thay vào đó lái tàu bằng các mái chèo. Bánh xe nước
đã lan truyền rất chậm, cho nên năng lượng nước đã chẳng bao giờ cách
mạng hóa nền kinh tế La Mã. Ngay cả những thành tựu vĩ đại như cầu máng
nước và cống rãnh thành phố đã sử dụng công nghệ hiện tồn, mặc dù những
người La Mã đã hoàn thiện nó. Đã có thể có sự tăng trưởng nào đó mà
không có đổi mới sáng tạo, dựa vào công nghệ hiện tồn, nhưng đó đã là sự
tăng trưởng mà không có phá hủy sáng tạo. Và nó đã không kéo dài. Khi
các quyền sở hữu trở nên ngày càng không an toàn và các quyền kinh tế
của công dân tiếp theo sau sự sa sút của các quyền chính trị, cũng thế
sự tăng trưởng kinh tế suy sụp.
Điều đáng chú ý về các công nghệ mới trong thời kỳ La Mã là, sự tạo ra
và sự phổ biến của chúng có vẻ đã được thúc đẩy bởi nhà nước. Đấy là tin
tốt, cho đến khi chính phủ quyết định rằng nó không quan tâm đến phát
triển công nghệ nữa – một sự cố quá thường xuyên do nỗi sợ sự phá hủy
sáng tạo. Nhà văn La Mã vĩ đại Pliny Già kể lại câu chuyện sau đây.
Trong triều đại của hoàng đế Tiberius, một người đã sáng chế ra kính
không thể vỡ và đã yết kiến hoàng đế dự tính rằng sẽ được một phần
thưởng lớn. Ông ta đã minh họa sáng chế của mình, và Tiberius đã hỏi
liệu ông ta đã nói cho bất cứ ai khác về sáng chế này hay chưa. Khi
người đó trả lời chưa, Tiberius đã sai lôi ông ta ra và giết, “e rằng
vàng bị giảm xuống giá trị của bùn”. Có hai điều lý thú về câu chuyện
này. Thứ nhất, người đã đi đến Tiberius trước tiên vì một phần thưởng,
hơn là tự mình dựng một doanh nghiệp và kiếm lợi nhuận bằng cách bán
kính. Điều này cho thấy vai trò của chính phủ La Mã trong kiểm soát công
nghệ. Thứ hai, Tiberius đã vui sướng phá hủy sự đổi mới bởi vì các tác
động kinh tế có hại mà nó có [đối với ông]. Đấy là nỗi sợ các tác động
kinh tế của sự phá hủy sáng tạo.
Cũng có bằng chứng trực tiếp từ thời kỳ Đế chế về nỗi sợ các hệ quả
chính trị của sự phá hủy sáng tạo. Suetonius kể câu chuyện về hoàng đế
Vespasian, người đã cai trị giữa năm 69 và 79 SCN, đã tiếp nhận ra sao
sự chạy chọt của một người đã sáng chế ra một công cụ để chuyên chở các
cột đá đến Capitol, thành trì của Rome, với chi phí tương đối nhỏ. Các
cột đã to, nặng và rất khó chuyên chở. Chuyển chúng tới Rome từ các mỏ
nơi chúng được làm ra dính líu đến công việc của hàng ngàn người, với
tốn phí rất lớn đối với chính phủ. Vespasian đã không giết người đó,
nhưng ông cũng từ chối sử dụng sự đổi mới, tuyên bố rằng “Sẽ làm sao có
thể đối với trẫm để nuôi ăn số dân thường này?” Một lần nữa lại một nhà
sáng chế đến với chính phủ. Có lẽ sáng chế này đã tự nhiên hơn kính
không thể vỡ, vì chính phủ La Mã đã dính líu sâu vào chuyện khai cột đá
và chuyên chở chúng. Lại lần nữa, sự đổi mới sáng tạo bị bác bỏ bởi vì
sự đe dọa của sự phá hủy sáng tạo, không phải bởi vì tác động kinh tế
của nó, mà là bởi vì nỗi lo sợ sự phá hủy sáng tạo chính trị. Vespasian
đã lo rằng trừ phi ông giữ cho dân chúng hạnh phúc và dưới sự kiểm soát,
còn không thì sẽ gây bất ổn chính trị. Những người dân thường La Mã
phải được giữ luôn bận rộn và dễ bảo, cho nên đã là tốt để có việc làm
cho họ, chẳng hạn việc vận chuyển cột loanh quanh. Điều này bổ sung cho
bánh mì và các rạp xiếc, mà cũng đã được phân phát miễn phí để giữ cho
dân chúng thỏa mãn. Có lẽ thật đích đáng rằng cả hai thí dụ này đến
không lâu sau khi nền Cộng hòa bị sụp đổ. Các hoàng đế La Mã đã có sức
mạnh lớn hơn rất nhiều để cản sử thay đổi so với các nhà cai trị La Mã
trong thời Cộng hòa.
Một lý do quan trọng khác cho sự thiếu đổi mới công nghệ đã là sự phổ
biến của tình trạng nô lệ. Khi các lãnh thổ mà những người La Mã kiểm
soát được mở rộng, một số rất đông bị bắt làm nô lệ, thường được đưa về
Italy để làm việc tại các điền trang lớn. Nhiều công dân của Rome đã
không cần phải lao động: họ đã sống nhờ vào những thứ phát không của
chính phủ. Thế thì đổi mới sáng tạo đến từ đâu? Chúng ta đã bàn luận
rằng đổi mới sáng tạo đến từ những người mới với các ý tưởng mới, phát
triển các giải pháp mới cho các vấn đề cũ. Tại La Mã, những người làm
việc sản xuất đã là các nô lệ và, muộn hơn, các nửa-nô lệ, các colonus,
với ít khuyến khích để đổi mới, vì các ông chủ của họ, chứ không phải
họ, được hưởng lợi ích từ bất cứ sự đổi mới nào. Như chúng ta sẽ thấy
nhiều lần trong cuốn sách này, các nền kinh tế dựa vào sự trấn áp lao
động và các hệ thống như các chế độ nô lệ và nông nô là không đổi mới
một cách khét tiếng. Điều này đúng từ thế giới cổ xưa đến thời hiện đại.
Ở Hoa Kỳ, chẳng hạn, các bang miền bắc đã tham gia vào Cách mạng Công
nghiệp, chứ không phải các bang miền Nam. Tất nhiên chế độ nô lệ và nông
nô đã tạo ra của cải to lớn cho những người là các chủ nô và kiểm soát
các nông nô, nhưng nó đã không tạo ra đổi mới công nghệ hay sự thịnh
vượng cho xã hội.
CHẲNG AI VIẾT TỪ VINDOLANDA
Vào năm 43 SCN hoàng đế La Mã Claudius đã chinh phục nước Anh, nhưng
Scotland thì không. Một nỗ lực vô ích cuối cùng đã được tiến hành bởi
thống sứ La Mã Agricola, người đã từ bỏ và, trong năm 85 đã xây một loạt
pháo đài để bảo vệ biên giới phía bắc của nước Anh. Một pháo đài lớn
nhất trong những số này đã ở Vindolanda, ba mươi lăm dặm về phía tây
Newcastle, và được vẽ trên Bản đồ 11 (trang 165) ở cực tây bắc của Đế
chế La Mã. Muộn hơn, Vindolanda đã được hợp nhất vào thành phòng thủ dài
tám mươi lăm dặm mà hoàng đế Hadrian đã xây dựng, nhưng trong năm 103
SCN, khi một đội trưởng đội trăm người La Mã (centurion), Candidus, đã
đóng ở đây, nó đã là một pháo đài cô lập. Candidus đã cùng bới bạn mình
Octavius tham gia cung ứng cho đơn vị đồn trú La Mã và đã nhận một bức
thư trả lời từ Octavius cho một bức thư mà ông đã gửi:
Octavius gửi cho bạn mình Candidus, những lời chào. Tôi đã viết cho anh
nhiều lần rằng tôi đã mua khoảng năm ngàn thùng bông lúa, vì lý do đó
tôi cần tiền mặt, ít nhất năm trăm đồng denarius, kết quả sẽ là tôi sẽ
mất khoản tiền mà tôi đã đặt cọc, khoảng ba trăm denarius, và tôi sẽ bị
bối rối. Vì thế, tôi yêu cầu anh, gửi cho tôi một số tiền mặt càng nhanh
càng tốt. Số da sống mà anh viết đang ở Cataractonium – hãy viết rằng
chúng và xe ngựa mà anh viết về được trao cho tôi. Tôi đã sẵn sàng rồi
để thu chúng trừ rằng tôi đã không quan tâm đến việc làm tổn thương các
con súc vật trong khi đường sá xấu. Hãy kiểm tra với Tertius về 8½
denarius mà anh ta đã nhận từ Fatalis. Anh ta vẫn chưa ghi chúng vào bên
có của tài khoản của tôi. Đảm bảo chắc chắn rằng anh gửi tiền mặt cho
tôi để tôi có thể có các bông lúa trên sàn tuốt lúa. Chào Spectatus và
Fimus. Tạm biệt.
Thư từ giữa Candidus và Octavius minh họa một số mặt quan trọng của sự
thịnh vượng của nước Anh La Mã: nó tiết lộ một nền kinh tế tiền tệ tiên
tiến với các dịch vụ tài chính. Nó tiết lộ sự hiện diện của đường sá
được xây dựng, cho dù đôi khi trong điều kiện tồi tàn. Nó tiết lộ sự
hiện diện của một hệ thống tài khóa thu thuế để trả lương của Candidus.
Hiển nhiên nhất nó tiết lộ rằng cả hai người đã biết đọc biết viết và đã
có khả năng tận dụng lợi thế của một dịch vụ bưu chính loại nào đó.
Nước Anh La Mã cũng đã hưởng lợi từ việc sản xuất hàng loạt gốm chất
lượng cao, đặc biệt ở Oxfordshire; các trung tâm đô thị với các nhà tắm
và các tòa nhà công cộng; và những kỹ thuật xây nhà sử dụng vữa và ngói
lợp mái nhà.
Vào thế kỷ thứ tư, tất cả trong suy tàn, và sau năm 411 SCN Đế chế La
Mã đã từ bỏ nước Anh. Binh lính bị rút đi, những người ở lại đã không
được trả lương, và khi nhà nước La Mã sụp đổ, các nhân viên quản lý đã
bị dân cư địa phương tống khứ. Vào năm 450 SCN tất cả các dấu hiệu hào
nhoáng này của sự thịnh vượng kinh tế đã mất hết. Tiền đã biến mất khỏi
sự lưu thông. Các khu vực đô thị bị bỏ trống, và các tòa nhà bị lột đá.
Đường sá bị cỏ dại bao phủ. Loại gốm duy nhất được sản xuất là gốm thô
làm bằng tay, không được chế tác hàng loạt. Người dân quên dùng vữa thế
nào, và sự biết đọc biết viết suy giảm đáng kể. Các nóc nhà được làm
bằng cành cây, chứ không phải lợp ngói. Không ai còn viết từ Vindolanda
nữa.
Sau năm 411 SCN, nước Anh đã trải qua một sự sụp đổ kinh tế và trở
thành một nơi ao tù nước đọng nghèo nàn – và không phải lần đầu tiên.
Trong chương trước chúng ta đã thấy Cách mạng đồ Đá Mới đã bắt đầu như
thế nào ở Trung Đông vào khoảng 9.500 TCN. Trong khi cư dân của Jericho
và Abu Hureyra đã sống trong các thị trấn nhỏ và canh tác, dân cư của
nước Anh vẫn săn bắt và hái lượm, và vẫn làm vậy trong 5.500 năm nữa.
Ngay cả khi đó những người Anh đã không sáng chế ra việc canh tác hay
chăn thả; những cách làm này đã được mang đến từ bên ngoài bởi những
người di cư lan ngang châu Âu từ Trung Đông trong hàng ngàn năm. Khi các
cư dân ở nước Anh đuổi kịp các đổi mới lớn này, những người ở Trung
Đông phát minh ra các thành phố, chữ viết và đồ gốm. Vào năm 3.500 TCN,
các thành phố lớn như Uruk và Ur đã nổi lên ở Mesopotamia, nay là Iraq
hiện đại. Uruk đã có thể có dân số mười bốn ngàn người vào năm 3.500
TCN, và bốn mươi ngàn người không lâu sau đó. Bàn chuốt gốm đã được sáng
chế ở Mesopotamia vào cùng khoảng thời gian như bánh xe giao thông. Thủ
đô Ai Cập Memphis đã nổi lên như một thành phố lớn không lâu sau đó.
Chữ viết xuất hiện một cách độc lập ở cả hai khu vực. Trong khi những
người Ai Cập đã đang xây các kim tự tháp vĩ đại ở Giza khoảng năm 2.500
TCN, những người Anh đã xây dựng đài tưởng niệm cổ nổi tiếng nhất của
họ, vòng tròn đá ở Stonehenge. Không tồi theo các tiêu chuẩn Anh, nhưng
thậm chí đã không đủ lớn để chứa được một trong những chiếc thuyền nghi
lễ được chôn dưới chân kim tự tháp của Vua Kufu. Nước Anh tiếp tục tụt
hậu và để vay mượn từ Trung Đông và phần còn lại của châu Âu cho đến và
bao gồm cả thời kỳ La Mã.
Bất chấp một lịch sử không may như vậy, đã chính ở nước Anh là nơi mà
xã hội bao gồm thực sự đầu tiên đã nổi lên và là nơi Cách mạng Công
nghiệp đã khởi hành. Chúng ta đã biện luận trước đây (trang 102-11) rằng
đấy đã là kết quả của một loạt những tương tác giữa những khác biệt nhỏ
về thể chế và các bước ngoặt – chẳng hạn, Cái Chết Đen và sự khám phá
ra châu Mỹ. Sự phân kỳ Anh đã có gốc rễ lịch sử, nhưng cách nhìn từ
Vindolanda gợi ý rằng những rễ này đã không sâu đến thế và chắc chắn
không được định trước về mặt lịch sử. Chúng đã không được trồng trong
Cách mạng đồ Đá Mới, hay thậm chí trong các thế kỷ của sự bá chủ La Mã.
Vào năm 450 SCN, vào đầu của cái mà các sử gia gọi là Thời Kỳ Đen Tối,
nước Anh đã trượt lại vào nghèo khó và hỗn loạn chính trị. Đã không có
một nhà nước tập trung hữu hiệu nào ở nước Anh trong hàng trăm năm.
NHỮNG CON ĐƯỜNG PHÂN KỲ (RẼ THEO CÁC HƯỚNG KHÁC NHAU)
Sự thăng tiến của các thể chế bao gồm và sự tăng trưởng công nghiệp sau
đó ở nước Anh đã không xảy ra như một di sản trực tiếp của các thể chế
La Mã (hay sớm hơn). Điều này không có nghĩa rằng đã chẳng có gì quan
trọng xảy ra với sự sụp đổ của Đế chế Tây La Mã, một sự kiện lớn tác
động đến hầu hết châu Âu. Vì các phần khác nhau của châu Âu chia sẻ cùng
các bước ngoặt, các thể chế của chúng sẽ trôi dạt theo kiểu cách giống
nhau, có lẽ theo một cách Âu châu đặc biệt. Sự sụp đổ của Đế chế La Mã
đã là một phần cốt yếu của những bước ngoặt chung này. Con đường Âu châu
này tương phản với những con đường ở các phần khác nhau của thế giới,
kể cả châu Phi hạ-Sahara, châu Á, và châu Mỹ, mà đã phát triển một cách
khác biệt một phần bởi vì chúng đã không đối mặt với cùng các bước
ngoặt.
Nước Anh La Mã đã sụp đổ với một tiếng nổ lớn. Điều này đã ít đúng hơn ở
Italy, hay ở xứ Gaul La Mã (nay là nước Pháp hiện đại), hoặc thậm chí ở
Bắc Phi, ở những nơi nhiều trong các thể chế cũ còn tồn tại dưới dạng
nào đó. Thế nhưng không có sự nghi ngờ gì rằng sự thay đổi từ ưu thế của
một nhà nước La Mã duy nhất sang một sự thừa quá nhiều của các nhà nước
được vận hành bởi những người Frank, Visigoth, Ostrogoth, Vandal, và
Burgundian đã là sự thay đổi quan trọng. Sức mạnh của các nhà nước này
đã yếu hơn nhiều, và chúng đã bị đày đọa bởi một loạt dài các cuộc đột
nhập từ các ngoại vi của chúng. Từ phương bắc là những người Viking và
Dane đến trên những chiếc thuyền dài của họ. Từ hướng đông là những kị
binh Hun đến trên lưng ngựa. Cuối cùng, sự nổi lên của Islam như một tôn
giáo và lực lượng chính trị trong thế kỷ sau cái chết của Mohammed vào
năm 632 SCN đã dẫn đến việc tạo ra các nhà nước Islamic mới ở phần lớn
Đế chế Byzantine, Bắc Phi, và Tây Ban Nha. Các quá trình chung này đã
làm rung chuyển châu Âu, và theo sau họ một loại xã hội cá biệt, thông
thường được nhắc tới như xã hội phong kiến, đã nổi lên. Xã hội phong
kiến đã là phi tập trung, bởi vì các nhà nước tập trung mạnh đã bị teo
đi, cho dù một số nhà cai trị như Charlemagne đã thử tái lập chúng.
Các thể chế phong kiến, mà dựa trên lao động không tự do, bị cưỡng bức
(các nông nô), đã rõ ràng là khai thác, và chúng đã tạo ra cơ sở cho một
giai đoạn dài của sự tăng trưởng khai thác và chậm ở châu Âu trong Thời
Trung Cổ. Nhưng chúng cũng đã có hậu quả cho những sự phát triển muộn
hơn. Thí dụ, trong thời gian dân số nông thôn bị hạ xuống địa vị nông
nô, tình trạng nô lệ biến mất khỏi châu Âu. Trong thời gian khi đã là có
thể đối với các elite để hạ toàn bộ dân cư nông thôn thành nông nô, đã
có vẻ không cần thiết để có một giai cấp nô lệ tách biệt như tất cả các
xã hội trước đó đã có. Chủ nghĩa phong kiến cũng đã tạo ra chân không
quyền lực trong đó các thành phố độc lập chuyên môn hóa về sản xuất và
thương mại đã có thể phồn thịnh. Nhưng khi sự cân bằng quyền lực thay
đổi sau Cái Chết Đen, chế độ nông nô bắt đầu tan rã ở Tây Âu, vũ đài
được dựng lên cho một xã hội đa nguyên hơn rất nhiều mà không có sự hiện
diện của bất cứ nô lệ nào.
Các bước ngoặt, mà gây ra xã hội phong kiến, đã khác biệt, nhưng chúng
đã không hoàn toàn bị giới hạn ở châu Âu. Một sự so sánh thích hợp là
với nước Phi châu hiện đại Ethiopia, mà đã phát triển từ Vương quốc
Aksum, được thành lập ở miền bắc nước này vào khoảng năm 400 TCN. Aksum
đã là một vương quốc tương đối phát triển vào thời của nó và đã tham gia
thương mại quốc tế với Ấn Độ, Arabia, Hy Lạp, và Đế chế La Mã. Theo
nhiều cách, nó đã có thể so sánh được với Đế chế Đông La Mã trong thời
kỳ đó. Nó đã sử dụng tiền, đã xây dựng các công trình kỷ niệm và các tòa
nhà công và đường sá, và đã có công nghệ rất giống, chẳng hạn, trong
nông nghiệp và vận tải bằng tàu thuyền. Cũng có sự tương tự ý thức hệ lý
thú giữa Aksum và La Mã. Trong năm 312 SCN, hoàng đế La Mã Constantine
đã cải đạo sang Kitô giáo (Christianity), như Vua Ezana của Aksum đã cải
đạo trong khoảng cùng thời gian đó. Bản đồ 12 (trang sau) cho thấy vị
trí của nhà nước Aksum lịch sử trong Ethiopia và Eritrea hiện đại-ngày
nay, với các đồn tiền tiêu ngang Hồng Hải ở Saudi Arabia và Yemen.
Hệt như La Mã suy sụp, Aksum cũng đã thế, và sự suy sụp lịch sử của nó
đã theo một hình mẫu gần với hình mẫu suy sụp của Đế chế Tây La Mã. Vai
trò được đóng bởi những người Hun và Vandal trong sự suy sụp của La Mã
đã được đóng bởi những người Arab, những người, trong thế kỷ thứ bảy, đã
mở rộng vào Hồng Hải và xuống Bán đảo Arabia. Aksum đã mất các thuộc
địa của nó ở Arabia và các đường thương mại của nó. Việc này đã thúc đẩy
nhanh sự suy sụp kinh tế: tiền bị ngưng đúc, dân số thành thị đã rớt
xuống, và nhà nước đã tập trung lại vào nội địa và lên cao nguyên của
Ethiopia hiện đại.
Ở châu Âu, các thể chế phong kiến đã nổi lên tiếp sau sự sụp đổ của
quyền lực nhà nước tập trung. Cũng thế đã xảy ra tại Ethiopia, dựa vào
một hệ thống được gọi là gult, mà dính líu đến việc hoàng đế
cấp đất phong. Thể chế này được nhắc đến trong các bản thảo thế kỷ thứ
mười ba, mặc dù nó có thể đã bắt nguồn sớm hơn nhiều. Từ gult
bắt nguồn từ một từ của ngôn ngữ Amharic có nghĩa là “ông đã nhượng một
khoảng đất phong.” Nó có nghĩa rằng trong sự trao đổi lấy đất, người nắm
giữ gult phải cung cấp các dịch vụ cho hoàng đế, đặc biệt các dịch vụ quân sự. Đổi lại, người nắm giữ gult
có quyền để khai thác đồ cống nạp từ những người canh tác trên đất
phong đó. Các nguồn lịch sử khác nhau gợi ý rằng những người nắm giữ gult
khai thác, giữa một nửa và ba phần tư sản lượng nông nghiệp của các
nông dân. Hệ thống này đã là một sự phát triển độc lập với những sự
giống nhau đáng chú ý với chủ nghĩa phong kiến Âu châu, nhưng có lẽ còn
khai thác hơn. Tại đỉnh cao của chủ nghĩa phong kiến ở nước Anh, các
nông nô đối mặt với sự khai thác ít nặng nề hơn và mất khoảng một nửa
sản lượng của họ cho chúa đất theo dạng này hay dạng khác.
Nhưng Ethiopia đã không là đại diện của châu Phi. Ở nơi khác, chế độ nô
lệ đã không được thay thế bằng chế độ nông nô; chế độ nô lệ Phi châu và
các thể chế ủng hộ nó vẫn tiếp tục thêm nhiều thế kỷ. Ngay cả con đường
cuối cùng của Ethiopia cũng rất khác. Sau thế kỷ thứ bảy, Ethiopia vẫn
đã cô lập ở vùng núi của Đông Phi khỏi các quá trình mà sau đó đã ảnh
hưởng đến con đường thể chế của châu Âu, như sự nổi lên của các thành
phố độc lập, các ràng buộc mới sinh đối với quốc vương và sự mở rộng
thương mại Đại Tây Dương sau việc khám phá ra châu Mỹ. Hệ quả là, phiên
bản của các thể chế chuyên chế của nó phần lớn vẫn không thay đổi. Lục
địa Phi châu muộn hơn đã tương tác trong một năng lực rất khác với châu
Âu và châu Á. Đông Phi đã trở thành nhà cung cấp nô lệ chủ yếu cho thế
giới Arab, và Tây và Trung Phi, với tư cách nhà cung cấp nô lệ, đã bị
lôi kéo vào nền kinh tế thế giới trong thời gian sự mở rộng Âu châu gắn
với thương mại Đại Tây Dương. Thương mại Đại Tây Dương đã dẫn thế nào
đến những con đường phân kỳ một cách rõ rệt giữa Tây Âu và châu Phi còn
là một thí dụ nữa về sự phân kỳ thể chế do kết quả từ sự tương tác giữa
các bước ngoặt và những sự khác biệt thể chế hiện tồn. Trong khi ở nước
Anh các khoản lợi nhuận của buôn bán nô lệ đã giúp làm giàu cho những
người chống chủ nghĩa chuyên chế, thì ở châu Phi chúng lại đã giúp tạo
ra và tăng cường chủ nghĩa chuyên chế.
Xa châu Âu hơn, các quá trình trôi dạt thể chế hiển nhiên còn tự do hơn
để đi theo con đường riêng của chúng. Ở châu Mỹ, chẳng hạn, mà đã bị
cắt khỏi châu Âu vào khoảng năm 15.000 TCN bởi sự tan băng nối liền
Alaska với Nga, đã có những đổi mới thể chế tương tự như các đổi mới thể
chế của những người Natufian, dẫn đến cuộc sống tĩnh tại, hệ thống thứ
bậc, và sự bất bình đẳng – nói ngắn gọn, đến các thể chế khai thác.
Những điều này đã xảy ra đầu tiên ở Mexico và Peru Andean và Bolivia, và
đã dẫn đến Cách mạng đồ Đá Mới châu Mỹ, với việc thuần hóa ngô. Đã
chính là ở các nơi này mà các hình thức ban đầu của sự tăng trưởng khai
thác đã xảy ra, như chúng ta đã thấy trong các thành-quốc Maya. Nhưng
cũng theo cùng cách, mà những đột phá lớn theo hướng các thể chế bao gồm
và tăng trưởng công nghiệp ở châu Âu đã không đến từ các nơi thế giới
La Mã đã có ảnh hưởng mạnh nhất, các thể chế bao gồm ở châu Mỹ đã không
phát triển ở những vùng đất của các nền văn minh sớm này. Thực vậy, như
chúng ta đã thấy ở chương 1, các nền văn minh định cư dày đặc này đã
tương tác theo một cách tai ác với chủ nghĩa thuộc địa Âu châu để tạo ra
một “sự đảo ngược vận may,” làm cho các nơi trước kia tương đối giàu
trở thành tương đối nghèo ở châu Mỹ. Ngày nay chính Hoa Kỳ và Canada,
những nơi khi đó đã tụt hậu xa đằng sau các nền văn minh phức tạp ở
Mexico, Peru, và Bolivia, là giàu hơn phần còn lại của châu Mỹ rất
nhiều.
NHỮNG HỆ QUẢ CỦA SỰ TĂNG TRƯỞNG SỚM
Thời kỳ dài, giữa Cách mạng đồ Đá Mới mà đã bắt đầu vào năm 9.500 TCN
và Cách mạng Công nghiệp Anh vào cuối thế kỷ thứ mười tám, đã bừa bộn
với các đợt cố gắng tăng trưởng kinh tế. Những đợt cố gắng này được kích
bởi những đổi mới thể chế mà cuối cùng đã mất hiệu lực. Ở La Mã Cổ xưa
các thể chế của nền Cộng hòa, mà đã tạo ra mức độ nào đó của sức sống
kinh tế và đã cho phép việc xây dựng một đế chế đồ sộ, đã bị tàn phá sau
cuộc đảo chính của Julius Caesar và sự xây dựng đế chế dưới thời
Augustus. Đã cần đến hàng thế kỷ để cuối cùng Đế chế La Mã biến mất, và
sự suy sụp đã kéo dài; nhưng một khi các thể chế cộng hòa tương đối bao
gồm đã nhường đường cho các thể chế khai thác của đế chế, thì sự thoái
bộ kinh tế đã trở nên hầu như không thể tránh khỏi.
Động học của Venice cũng đã tương tự. Sự thịnh vượng kinh tế của Venice
đã được tạo dựng bởi các thể chế mà đã có các yếu tố bao gồm quan
trọng, nhưng các thể chế này đã bị xói mòn khi các elite hiện tồn đã
đóng hệ thống lại với những người gia nhập mới và thậm chí đã cấm các
thể chế mà đã tạo ra sự thịnh vượng của nền cộng hòa.
Dẫu kinh nghiệm La Mã có đáng chú ý đến thế nào, không phải sự thừa kế
của La Mã là cái đã dẫn trực tiếp đến sự nổi lên của các thể chế bao gồm
ở nước Anh và đến Cách mạng Công nghiệp Anh. Các nhân tố lịch sử định
hình các thể chế phát triển thế nào, nhưng đây không phải là một quá
trình đơn giản, tiền định, tích lũy. La Mã và Venice minh họa các bước
ban đầu tiến đến tính bao gồm đã bị đảo ngược ra sao. Phong cảnh kinh tế
và thể chế mà La Mã đã tạo ra khắp châu Âu và Trung Đông đã không dẫn
một cách không thể lay chuyển nổi đến các thể chế bao gồm được bén rễ
chắc của các thế kỷ muộn hơn. Thực ra, những việc này đã nổi lên đầu
tiên và mạnh nhất ở nước Anh, nơi ảnh hưởng La Mã đã yếu nhất và nơi nó
biến mất một cách dứt khoát nhất, hầu như không có một dấu vết, trong
thế kỷ thứ năm SCN.
Thay vào đó, như chúng ta đã thảo luận ở chương 4, lịch sử đóng một vai
trò chủ yếu thông qua sự trôi dạt thể chế mà tạo ra những sự khác biệt
thể chế, dẫu đôi khi nhỏ, mà sau đó được khuếch đại lên khi chúng tương
tác với các bước ngoặt. Chính bởi vì những sự khác biệt thể chế này
thường là nhỏ mà chúng có thể bị đảo ngược một cách dễ dàng và không
nhất thiết là hệ quả của một quá trình tích lũy đơn giản.
Tất nhiên, La Mã đã có những ảnh hưởng lâu dài lên châu Âu. Luật và các
thể chế La Mã đã ảnh hưởng đến luật và các thể chế mà các vương quốc
của những người dã man đã dựng lên sau sự sụp đổ của Đế chế Tây La Mã.
Cũng chính sự sụp đổ của La Mã đã là cái tạo ra phong cảnh chính trị phi
tập trung mà đã phát triển thành trật tự phong kiến. Sự biến mất của
tình trạng nô lệ và sự nổi lên của các thành phố độc lập đã là các sản
phẩm phụ dài, kéo dài (và, tất nhiên, tùy thuộc ngẫu nhiên về mặt lịch
sử) của quá trình này. Những điều này trở nên đặc biệt quan trọng khi
Cái Chết Đen đã làm lung lay xã hội phong kiến một cách sâu sắc. Từ đống
tro tàn của Cái Chết Đen nổi lên các thị trấn và các thành phố mạnh
hơn, và một giai cấp nông dân không còn bị gắn với đất và mới thoát được
các nghĩa vụ phong kiến. Đã chính xác là các bước ngoặt được tháo ra
bởi sự sụp đổ của Đế chế La Mã là những cái đã dẫn đến một sự trôi dạt
thể chế mạnh tác động đến toàn bộ châu Âu theo một cách mà không có cái
tương tự ở châu Phi hạ-Sahara, châu Á, hay châu Âu.
Vào thế kỷ thứ mười sáu, về mặt thể chế châu Âu đã rất khác với châu
Phi hạ-Sahara và châu Mỹ. Tuy đã không giàu hơn nhiều so với hầu hết các
nền văn minh Á châu ngoạn mục nhất ở Ấn Độ hay Trung Quốc, châu Âu đã
khác biệt với các chính thể này trên nhiều phương diện chủ chốt. Thí dụ,
nó đã phát triển các thể chế đại diện thuộc loại không được biết đến ở
đó. Những cái này đã sẽ đóng một vai trò cốt yếu trong sự phát triển của
các thể chế bao gồm. Như chúng ta sẽ thấy trong hai chương tiếp theo,
những sự khác biệt thể chế nhỏ sẽ là những cái thực sự quan trọng bên
trong châu Âu; và những cái này tạo thuận lợi cho nước Anh, bởi vì chính
ở đó là nơi trật tự phong kiến đã nhường bước một cách toàn diện nhất
cho những người nông dân có đầu óc thương mại và các trung tâm đô thị
độc lập nơi các nhà buôn và các nhà công nghiệp đã có thể phát đạt. Các
nhóm này đã đòi hỏi rồi các quyền tài sản an toàn hơn, các thể chế kinh
tế khác nhau, và tiếng nói chính trị từ các quốc vương của họ. Toàn bộ
quá trình này sẽ tới tột đỉnh trong thế kỷ thứ mười bảy.
Người dịch: Nguyễn Quang A
Nguồn: Why Nations FailTHE ORIGINS OF POWER,PROSPERITY, AND POVERTY
Daron Acemoglu and Jemes A. Robinson
Crown Publishers ● New York








0 nhận xét:
Đăng nhận xét