This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Bốn “trọng bệnh” của nền giáo dục Việt Nam

Hội nghị BCH Trung ương lần thứ sáu đã xem xét, thảo luận về đề án đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT và đề án phát triển KH&CN. Báo Lao Động có cuộc trao đổi với  GS-TSKH Trần Ngọc Thêm – Chủ tịch Hội đồng KH – ĐT Đại học Quốc gia TPHCM, Uỷ viên Hội đồng Lý luận T.Ư – về hai nội dung trên.

Việc đổi mới giáo dục và đào tạo một cách căn bản và toàn diện là một nhu cầu cấp bách. Ảnh: Hải Nguyễn

Việc đổi mới giáo dục và đào tạo một cách căn bản và toàn diện là một nhu cầu cấp bách. Ảnh: Hải Nguyễn
GS vào thẳng vấn đề:
- Trước hết, về thực trạng giáo dục, tôi xin được nói thẳng thắn là hỏng ở các cấp học, trên khắp các bình diện, hỏng một cách căn bản và toàn diện. Chính vì thế nên Đảng, Nhà nước và tất cả người dân đều dễ dàng thống nhất với nhau về việc đổi mới giáo dục và đào tạo một cách căn bản và toàn diện như một nhu cầu cấp bách. Giáo dục VN theo tôi đang mắc 4 trọng bệnh: Bệnh thành tích, bệnh cào bằng, bệnh suy dinh dưỡng và bệnh gian dối.
Bệnh thành tích rất nặng ở khối phổ thông, giáo viên muốn lớp mình giỏi nên cho toàn điểm 9 – 10. Trường muốn thành tích cao, ngành cũng vậy. Cả nước chạy theo thành tích, lúc nào cũng muốn có nhiều trường đại học, có nhiều người tốt nghiệp. Điều này cho thấy người VN hiếu danh hơn hiếu học, tình trạng học giả, dạy giả, bằng thật rất nhiều, còn học thật mà không nhất thiết cần bằng thì rất ít.
Bệnh cào bằng dẫn đến tình trạng mở trường theo phong trào, tỉnh nào cũng có trường ĐH nhưng không có đủ giảng viên. Hiện đại hóa theo phong trào, trường nào cũng chuyển sang học chế tín chỉ, trong khi rất ít trường đáp ứng được những điều kiện tối thiểu để làm tín chỉ. Cào bằng đánh giá chất lượng, cái gì cũng làm nhưng không phân hóa rõ ràng chất lượng, kết quả. Quản lý khung học phí cũng cào bằng, dẫn đến tình trạng tất cả các cơ sở đào tạo đều thiếu kinh phí. Bệnh suy dinh dưỡng chính là cái gốc của vấn đề giáo dục. Cơ sở vật chất của các trường thiếu và lạc hậu. Lương giáo chức quá thấp, không đủ sống nên quá nửa số giáo viên không an tâm với nghề. Nhà nước đầu tư 20% tổng ngân sách cho giáo dục, nhưng số tiền này đi vào cơ sở hạ tầng gần hết, thành ra vẫn như muối bỏ biển.
Bệnh gian dối là hệ quả của tất cả ba bệnh trên. Bệnh thành tích là nguồn gốc đầu tiên dẫn đến gian dối. Các con số tốt nghiệp cao hằng năm là gian dối. Bệnh cào bằng dẫn đến gian dối. Có phong trào nhưng hữu danh vô thực, cái gì cũng có nhưng không có gì chất lượng cao. Bệnh suy dinh dưỡng càng sinh ra gian dối. Trường nào cũng tìm  đủ mọi lý do cao cả để tăng các hệ đào tạo, tăng số lượng SV; báo cáo tỉ lệ số SV trên một giảng viên gian dối – tất cả thực chất cốt để thu học phí lấy tiền nuôi cán bộ, nuôi trường.
Từ 4 bệnh này sinh ra  đủ mọi hậu quả tệ hại: Chất lượng giáo dục xuống cấp, đạo đức học đường xuống cấp, nguồn nhân lực do hệ thống giáo dục cung cấp cho xã hội thiếu tính sáng tạo, khả năng nghiên cứu hạn chế nên KHCN trì trệ; năng lực thực hành thấp.
Đã có nhiều chuyên gia chỉ ra bệnh của giáo dục VN. Đối với 4 trọng bệnh mà Giáo sư vừa chẩn, xin hỏi có cứu chữa được không, nếu có thì cần bốc thuốc thế nào?
- Trước hết là cần xác định lại mục tiêu, phải căn cứ vào hệ giá trị định hướng của con người VN trong giai đoạn toàn cầu hóa, công nghiệp hóa mà xác định mục tiêu. Để tránh bệnh thành tích thì mục tiêu trước hết của giáo dục chưa phải là số lượng, mà phải là chất lượng. Sản phẩm hàng hóa kém chất lượng còn dùng tạm được, chứ sản phẩm giáo dục mà kém chất lượng thì thà đóng cửa trường còn hơn, vì càng cho ra nhiều bao nhiêu thì càng gây nguy hại cho xã hội bấy nhiêu.
Liều thuốc giải pháp phải vừa đủ bao quát để không sa đà vào những chuyện vụn vặt, đồng thời phải vừa đủ cụ thể để đảm bảo triển khai đúng hướng. Theo tôi, nên tập trung vào 5 nhóm giải pháp, gồm: Tổ chức hệ thống giáo dục; xây dựng nhân lực làm giáo dục; tăng cường vật lực cho giáo dục; thay đổi cơ chế giáo dục và đảm bảo chất lượng của hoạt động giáo dục.
Để tránh cào bằng, tổ chức hệ thống giáo dục cần chú trọng không chỉ phân hệ, phân cấp mà còn phải phân tầng giáo dục, mỗi tầng mỗi hệ có mục tiêu khác nhau và do vậy, cách quản lý, cách đầu tư, mức độ tự chủ cho phép phải rất khác nhau. Chẳng hạn, việc học trước hết phải có mục tiêu, học làm người rồi sau mới là học tri thức và học phương pháp làm việc. Cho nên, các cấp học đầu tiên phải thật coi trọng việc dạy làm người. Thầy cô mà chạy theo thành tích thì học trò sẽ chỉ học được cách gian dối, đối phó; thầy cô mà chỉ đòi hỏi học thuộc lòng, bắt học trò viết văn theo đúng mẫu cho sẵn thì sẽ triệt tiêu luôn tính sáng tạo.
Từ mẫu giáo, tiểu học lên THCS, THPT, vai trò của chức năng học làm người sẽ giảm dần, vai trò của học tri thức phải tăng dần. Nhưng từ THPT lên ĐH, sau ĐH, vai trò học tri thức nên giảm dần, mà vai trò học phương pháp phải tăng dần. Và bao trùm lên, tuy mục tiêu của mỗi giai đoạn mỗi khác nhau, nhưng những yêu cầu về hệ thống giá trị thì phải xuyên suốt. Tiểu học cũng phải chú trọng dạy tư duy sáng tạo, và ĐH cũng không được quên dạy làm người.
Về nhân lực giáo dục, có thể nói toàn bộ sự xuống cấp trầm trọng của giáo dục hiện nay trước hết có nguyên nhân từ giáo dục phổ thông quá kém. Trình độ, năng lực, bản lĩnh các thầy cô dạy phổ thông hạn chế là do chất lượng đầu ra của ngành sư phạm kém. Đầu ra kém là vì số lượng và chất lượng đầu vào ngành sư phạm ngày càng ít và thấp. SV không chọn ngành sư phạm là do cơ hội kiếm việc làm thấp, thu nhập thấp, địa vị nhà giáo không được tôn trọng. Không chỉ ngành sư phạm mà chất lượng SV tốt nghiệp tất cả các ngành ĐH đều ngày càng kém đi. Lý do rất đơn giản: Nhìn tấm gương các thầy, các giáo sư được đối xử như thế, SV giỏi không mấy ai chịu ở lại trường. Cái gốc của nhân lực giáo dục nằm ở chất lượng giáo viên ĐH. Cho nên giải pháp chính là, muốn có thầy cô phổ thông giỏi phải có thầy cô ĐH chất lượng, muốn có thầy cô cả phổ thông lẫn ĐH chất lượng thì giáo viên phải có thu nhập đủ sống mà không cần phải dạy thêm, đồng thời phải quản lý tốt để đảm bảo lao động cả về số lượng lẫn chất lượng.
Đến đây ta đã đụng chạm đến vấn đề mấu chốt của mấu chốt là vật lực giáo dục. Không có quốc gia nào mà nhà nước bao cấp được toàn bộ nền giáo dục. Việc xã hội hóa giáo dục nhằm đến nhiều mục tiêu, nhưng trong đó có mục tiêu huy động nguồn lực tài chính, đến lượt mình, việc đó liên quan đến chuyện kinh tế thị trường. Đừng né tránh mà nên công khai thừa nhận sự tồn tại của nhiều loại hình nhà trường, trong đó có loại trường hoạt động vì lợi nhuận. Chỉ có điều khác là thị trường kinh tế thì điều tiết bằng giá cả, còn thị trường giáo dục phải điều tiết bằng chất lượng. Bên cạnh đó, cần sử dụng thêm nhiều giải pháp khác để thu hẹp phạm vi bao cấp của ngân sách để nâng chất lượng đầu tư, ví dụ: Cổ phần hóa, phân tầng và cho mở trần học phí đối với một số loại trường (theo kiểu trường đại học quốc tế).
Về cơ chế giáo dục, tăng cường hơn nữa việc tự chủ là một giải pháp sẽ giúp giải quyết  cả chất lượng  lẫn tài chính. Nếu cứ cho ”bú mớm” mãi mà không tăng cường tự chủ, phân cấp quản lý, cởi trói cho giáo dục thì giáo dục sẽ không thể cất cánh được. Tuy nhiên, nếu tự chủ tràn lan, cào bằng thì cũng rất nguy hiểm. Các trường ĐH chưa đủ tầm thì không nên cho tự chủ đại trà, nhưng trường lớn thì không thể trói buộc bởi nhiều cơ chế. Tăng cường dân chủ trong giáo dục cũng là một giải pháp khác về cơ chế. Cuối cùng, hoạt động giáo dục phải đảm bảo chất lượng. Tư tưởng của nhiều thầy cô rằng điểm chẳng là gì cả, nên cấp phổ thông thì cho rộng tay để có thành tích, cấp ĐH và sau ĐH cho rộng tay để thu hút SV là nguy hại vô cùng cho tương lai của giáo dục nước nhà.
Tại một cuộc họp của Uỷ ban Thường vụ QH gần đây có nêu ra vấn đề  là chúng ta có hàng chục ngàn tiến sĩ, 9.000 giáo sư nhưng ít có  phát minh, sáng chế, trong lúc nông dân lại làm được điều đó, Giáo sư có nhận định gì về thực tế này?
- Xin được nói ngay, nghiên cứu khoa học có hai loại: Nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu cơ bản có thể đi trước thời đại rất nhiều, nhưng nghiên cứu ứng dụng thì ngược lại, phải gắn với nhu cầu xã hội. Hiện nay, nhiều nghiên cứu khoa học và chương trình đào tạo chưa sát thực tế, chưa nắm bắt nhu cầu từ sản xuất, đời sống.  Tôi xin mở rộng thêm, xuất phát từ quan sát bề ngoài, lâu nay nhiều người cho rằng người Nam Bộ không chịu học cao, nhưng không thấy nguyên nhân là vì  người Nam Bộ vốn thiết thực, nên họ sẵn sàng tự học để có những kiến thức họ cần chứ không chịu mất thời gian ngồi học những thứ viển vông.
Chúng ta từng chứng kiến các kỹ sư ”hai lúa” Nam Bộ như Trần Văn Dũng ở Trà Vinh chế tạo máy hút bùn bán khắp cả nước; Năm Hiếu ở Cần Thơ chăm sóc mai tết không rụng, mỗi mùa thu mấy tỉ đồng; “thần đèn” Nguyễn Cẩm Lũy- Tư Lũy gây kinh ngạc cho giới kỹ sư chuyên nghiệp.
Vậy thì làm cách nào để các nhà khoa học làm ra được những sản phẩm công nghệ áp dụng được vào thực tiễn đời sống, thưa Giáo sư?
- Kinh nghiệm của thế giới là phải kết hợp 3 chức năng: Nghiên cứu khoa học – đào tạo – gắn kết với sản xuất trong một loại trường gọi là đại học nghiên cứu (Research University). Trong khi ở tất cả các trường ĐH của ta, kể cả hai ĐH quốc gia, vì lý do kinh tế nên đều coi nhiệm vụ đào tạo là chính, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học là phụ. Lãnh đạo các trường chỉ thích giữ biên chế giảng dạy, bởi vậy mà nghiên cứu viên rất ít hoặc không có. ĐH nghiên cứu là loại trường có hai lực lượng cán bộ với tỉ lệ trách nhiệm khác hẳn nhau: Cán bộ giảng dạy dành khoảng 70% thời gian cho giảng dạy + 30% cho nghiên cứu; và cán bộ nghiên cứu dành khoảng 70% thời gian cho nghiên cứu + 30% cho giảng dạy. Đây là loại trường đào tạo đội ngũ lãnh đạo cho quốc gia và nguồn nhân lực tinh hoa cho đất nước. ĐH nghiên cứu là chìa khóa cho việc xây dựng nền kinh tế tri thức, đưa đất nước vượt qua bẫy thu nhập trung bình.
Đức là nước đề xuất ra  mô hình ĐH nghiên cứu từ thế kỷ 19, nhờ các trường này mà Đức vượt lên trở thành quốc gia mạnh hàng đầu Châu Âu vào đầu thế kỷ 20. Chính các ĐH nghiên cứu đã giúp Mỹ giữ vững vị trí đứng đầu thế giới. Trung Quốc thực hiện quyết liệt việc xây dựng ĐH nghiên cứu từ năm 1995; Nga đưa ĐH nghiên cứu vào Luật Giáo dục từ năm 1996, thực hiện quyết liệt từ năm 2009. Thái Lan cũng làm từ năm 2009. VN không thể không xây dựng ĐH nghiên cứu, do vậy làm sớm chừng nào tốt chừng ấy.
- Xin cảm ơn Giáo sư.
Nguồn: http://laodong.com.vn/Xa-hoi/Bon-trong-benh-cua-nen-giao-duc-Viet-Nam/88576.bld

Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2012

Trung Quốc - Rồng thật hay Voi giấy?

Trung Quốc - Rồng thật hay Voi giấy?

Hiện, TQ có thể ví như một con voi. Voi bằng giấy (phủ đôla móc từ thặng dư lao động của nông dân phải đi làm công nghiệp trên thành phố), với ba chân đất sét (với môi trường bị tàn phá, lao động lão hóa, và bất bình đẳng trong phân bố lợi tức) và một chân bằng gỗ....
Nếu tính tổng sản lượng GDP, TQ có nền kinh tế đứng thứ 3 trên thế giới, với ¼ dân số địa cầu. Nếu tính GDP/đầu người thì hiện 130 triệu người TQ làm được 1 đôla mỗi ngày. 35% dân số - tức trên dưới 455 triệu người - chỉ thu nhập dưới 2 đôla mỗi ngày, tức ở mức 700-750 đô la/năm. So vớí thế giới, người TQ vẫn chưa phải là nước giàu.
Chế độ an sinh (lợi tức hưu trí, y tế xã hội…) ở TQ còn phôi thai. Mức bất bình đẳng phân bổ ở mức cao - đo bằng chỉ số Gini, cảnh báo tiềm ẩn xung đột lớn. Nếu xét đến mức phân bố theo vùng, rạn nứt giữa những khu kinh tế đặc biệt ở duyên hải và những thành phố lớn đối với nội địa (mà nông nghiệp là chính) càng ngày càng lớn. Ngoài ra, TQ phải đối mặt với hiện tượng "lão hóa" trong cơ cấu dân số. Kèm theo đó là vấn đề môi trường bị tàn phá ở mức trầm trọng vì kỹ thuật kém và vì tầm nhìn ngắn.
TQ đã khởi đầu công nghiệp nặng và trung, nhưng vẫn còn tập trung trong khâu công nghiệp nhẹ để xuất khẩu. Năm 2010, TQ sẽ là nước có mức xuất khẩu lớn nhất thế giới, nhưng vẫn ở thế "kẹt" vì phải dùng đôla làm tiền tệ thanh khoản. Những nước mới nổi BRIC (gồm Brazil, Ấn, Nga, và Trung Quốc) bàn nhau về phương sách thay thế đồng đôla. Tuy nhiên, có sớm cũng phải 5 đến 7 năm tới việc này mới khả thi, và với điều kiện BRIC duy trì được mức đoàn kết tối thiểu. Điều này xét trong bối cảnh các quan hệ Ấn - Trung và Nga – Trung. Chẳng mấy dễ dàng.


Hình minh họa. Nguồn: Corbis
Nhưng nếu cứ có khả năng "ổn định" củng cố tập quyền về mặt chính trị, chuyện vào vai siêu cường của TQ là có cơ sở. Siêu cường - chẳng phải vì TQ có kỹ thuật không gian cao, đóng được tầu ngầm nguyên tử, hay phóng được tên lửa mang đầu hạt nhân xa 2000 km (theo sau Mỹ 20 năm). Trung Quốc có thể trở thành siêu cường vì đã bỏ vốn đi buôn, đồng thời cầm giữ đôla như giữ lửa trong tay. Trung Quốc có thể trở thành siêu cường vì - như Âu châu đầu cuộc Cách mạng Kỹ Nghệ thế kỷ 18- 19 - "vắt sức" của giai cấp lao động trong nước và lũng đoạn tài nguyên từ những nước nghèo ở các châu lục khác. Trung Quốc hoàn toàn có khả năng trở thành đế quốc mới, nhưng hiện thực vẫn phải tùy thuộc thời gian trả lời. Nhưng, lực cản đã xuất hiện. Tây Âu, Nhật, Nga…bắt đầu quan tâm và có phản ứng trước chính sách kinh tế đối ngoại của TQ. Do còn vướng tay giải quyết vấn đề kinh tế mỗi nước, hiện họ chỉ đánh động nguy cơ trước "quyền lực mềm" và khẩu hiệu "đôi bên cùng có lợi" (win-win) "hài hòa" của Bắc Kinh.
Hiện, TQ có thể ví như một con voi. Voi bằng giấy (phủ đôla móc từ thặng dư lao động của nông dân phải đi làm công nghiệp trên thành phố), với ba chân đất sét (với môi trường bị tàn phá, lao động lão hóa, và bất bình đẳng trong phân bố lợi tức), một chân bằng gỗ (quân đội trung kiên với quyền lực chính trị). Nhưng TQ đã cấm quân đội "làm ăn". Chân gỗ hẳn chẳng còn được đóng đế sắt, và lung lay thế nào thì xin đợi vòng quay sau của bánh xe lịch sử.
Một Trung Quốc trong vai đế quốc thế kỷ 21? Vào vai siêu cường còn khó khăn thì khả năng TQ trở thành đế quốc vẫn là một viễn cảnh chưa thể hình dung được. Ngược dòng lịch sử, Đế quốc La Mã khai sinh từ một tổ chức quân đội kỷ luật và có khả năng kỹ thuật cao, sau rao giảng Kitô giáo - một hệ thống giá trị hoàn thiện hơn những nền văn hoá phôi thai ở Âu châu thời đó. Đế quốc của Hồi giáo đến sau, quân lực hùng hậu, phát triển thêm một nền khoa học. Với kỹ thuật dẫn thủy độc đáo, và kèm vào kinh Coran, cũng từ truyền thống tôn giáo vùng Trung-Cận Đông, họ mang tới châu Phi những giá trị mới. Đế quốc Anh, thống trị mặt biển, khai mào cùng một số nước Âu châu chính sách thuộc địa, mang theo hành trang những tư tưởng thời Phục Hưng và Khai Sáng. Đế quốc Mỹ, thắng Thế Chiến II, chia thế giới thành hai, rồi đi rao giảng những giá trị Dân chủ, Tự do…
Kể sơ như vậy, dẫu biết là không đầy đủ, nhưng tôi vẫn nói nhằm nhấn mạnh hai điểm sau: điều kiện cần để thành Đế quốc là lực lượng quân sự và kỹ thuật (kể cả kỹ thuật chiến tranh) cao; và điều kiện đủ là một hệ thống giá trị mới đi kèm, có khả năng thay thế những giá trị cũ kỹ lỗi thời. Về điểm đầu, TQ còn khá lạc hậu so với tiềm lực quân sự những nước tiên tiến. Về điểm thứ hai, thật khó tưởng tuợng nổi một hệ thống giá trị thời Xuân Thu-Chiến Quốc xưa hàng mấy ngàn năm lại có thể ảnh hưởng lên những con người thời đại hôm nay, với những phương tiện truyền thông hiện đại.
Dù có lập 70 Văn Miếu thờ Đức Khổng ở nhiều nơi trên trái đất, và mặc dầu không có ác cảm gì với nhà tư tưởng này, tôi vẫn tự thấy mình quả rất khó chấp nhận khi tưởng tượng ra một thanh niên da đen sì sụp lạy Đức Khổng, miệng lẩm nhẩm "Quân", "Sư", "Phụ"…như thứ bùa chú để giữ ổn định cho những vị lãnh đạo Phi châu. Việc đi xây Văn Miếu này chứng tỏ những nhà lãnh đạo TQ đang bế tắc trong sự tìm kiếm một mô hình văn hóa có giá trị phổ quát toàn cầu ở ngưỡng cửa thế kỷ 21 này.
Bàn cờ mới - Thế trận mới
Năm 2010 tới đây là một năm bản lề. Ở khía cạnh lạc quan như chuyên gia nói kinh tế Tây Âu và Mỹ sẽ tăng trưởng - nhưng chừng mực nhất định. Ở góc độ bi quan, nhiều người cho rằng kinh tế sẽ trồi sụt kiểu chữ W, vì vẫn còn bong bóng, và những cứ liệu căn bản không có gì mới mặc dù giá chứng khoán có tăng từ tháng 3 – 2009.
Quay lại thời kỳ Cục dự trữ Liên Bang Mỹ bơm hơn một ngàn tỉ vào nền kinh tế hầu cứu ứng nan đề "cạn nguồn" tín dụng - lý do khiến những đại công ty tài chính và ngân hàng không cho vay, cơ xưởng đình trệ, tức nền kinh tế "thật" suy thoái. Tín dụng (tiền tệ) là giấy, ảo, và là đơn vị trung gian giữa mua và bán những mặt hàng thật ( như trả lương lao động, mua nhiên vật liệu… chẳng hạn). Trên lý thuyết, bản vị trung gian tín dụng không tác động lên nền kinh tế "thật", nhưng trong thực tế cuộc trầm thoái vừa qua, thì không thế.
Tại sao? Giới tài phiệt đã đi qua chức năng truyền thống của ngân hàng, lao vào hoạt động đầu cơ may rủi qua những quĩ đầu tư, và ngay khi được hỗ trợ, họ giữ tiền chứ không cho vay để bôi trơn hoạt động kinh tế "thật". Bằng chứng là: vài tháng sau khi nhận tiền, khi chính phủ Mỹ định kiểm soát "tiền thưởng" của lãnh đạo những tập đoàn kinh tài vẫn lên đến 900 triệu đô (trong năm 2008 thua lỗ), họ đòi trả lại tiền đã nhận và từ chối không cho chính phủ Mỹ "điều tiết" tiền thưởng của họ! Mặc dù tân Tổng thống Obama được dư luận quần chúng ủng hộ, ông ta cũng đành "chịu thua".
Wall Street thắng Main Street, tài phiệt đã xử dụng nền kinh tế "thật" như con tin để ép nhà nước Mỹ lấy tiền dân cung ứng hỗ trợ họ. Mới đây, trong hội nghị thượng đỉnh G-20 ở Pittsburg, những điều kiện chế tài vẫn lỏng lẻo, thậm chí đề nghị đánh thuế mua bán chứng khoán để giới hạn hoạt động đầu cơ thôi mà cũng không được thông qua. Với lãi suất hiện ở mức bằng 0, người ta cứ vay đôla mà không phải trả lãi, mang đi mua chứng khoán ở những nơi giá trị tiền tệ tăng lên so với đồng đôla, tạo ra khả năng thổi những quả bong bóng mới trên thị trường. Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy mạnh miệng lên tiếng nhiều lần, cho rằng tương lai của kinh tế tư bản thị trường mấp mé bờ vực phá sản với sự lũng đoạn của khu vực tài chính - ngân hàng, nhưng tiếng ông dường như rơi vào thinh không. Đây có lẽ là vấn đề cam go nhất của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa: "ảo" thắng "thực", và tài phiệt chễm chệ trên đầu mọi người (kể cả tổng thống, thủ tướng, quốc hội) ở những quốc gia dân chủ tiên tiến.
Sau trầm thoái, phân bố quyền lực kinh tế (và chính trị, như hệ luận) sẽ khác. Bên mất đi, hay suy giảm là các nước Mỹ, Nhật, Tây Âu và những nước Đông Âu mới gia nhập Cộng đồng châu Âu. Bên được là những nước nhiều tài nguyên, như Brazil, Nga, Úc, Canada. Còn TQ vẫn tiếp tục tăng trưởng, và nhân cơ hội sử dụng đôla đi buôn tài nguyên và đi "buôn vua" - kiểu Lã Bất Vi thời Chiến quốc, chắc sẽ phát huy trong một chừng mực nhất định vị trí của mình. Ở châu Phi, TQ giữ vai bảo kê cho những chính quyền độc tài, thao túng quyền lực chính trị địa phương, khai thác tài nguyên đồng thời để lại di sản là môi trường bị hủy hoại, mượn tiếng sử dụng lao động để di dân hòng đối phó vấn đề nhân mãn (ở mẫu quốc), tìm cách kiểm soát và điều hành yếu tố sinh tử là nguồn nước.
Về thực lực khoa học - kỹ thuật, TQ chưa phải là tiên phong. Và mang những giá trị phong kiến Khổng-Mạnh ra rao giảng như hệ lý luận trụ cột cho phương thức "ổn định để phát triển" đúng là đi giật lùi ít ra hai ngàn năm. Trong tình huống trầm thoái kinh tế toàn cầu, với túi đôla khổng lồ, TQ hoàn toàn có khả năng bành trướng. Nhưng mức độ phủ bóng của Trung Quốc chỉ trong một chừng mực, vì khi tương đối ổn định, những cường quốc kinh tế khác sẽ không thể ngồi yên xem con Rồng Trung Quốc tự do vẫy vùng mãi. Phi châu là chiến trường của cuộc xâm lăng kinh tế thế kỷ 21, và sự cố Tân Cương hẳn sẽ tác động tiêu cực lên cách người Phi châu - mà đa số theo đạo Hồi nghĩ - về khả năng hợp tác "hài hoà" với Bắc Kinh.
Tóm lại, thế giới thế kỷ này là thế giới đa cực: điều này rất tích cực, cho phép những nước chưa phát triển - trong đó có Việt Nam - thời cơ hợp tác đa phương với mọi đối tác. Quốc gia nào khép mình bó chặt vào bất cứ một quan hệ đơn phương nào cũng là tự nhốt mình trong cũi.
Quan hệ phức tạp Việt - Trung
Dân gian có câu "bán anh em xa mua láng giềng gần". Đó là trong việc cưu mang nhau. Nhưng nếu không cưu mang mà còn ngược lại, thì Việt Nam rất cần anh em xa để "hài hòa" các mối quan hệ. Hai lần Bắc thuộc mà Việt Nam chưa biến thành quận huyện TQ là điều thần kỳ. Ai đó coi chuyện Việt Nam phải vào quỹ đạo kinh tế của TQ như điều tất yếu hiển nhiên là một sai lầm chiến lược mà hậu quả là truyền đời.
Người Việt đã đổ ra không biết bao nhiêu xương máu và nước mắt để giữ nước. So với thời Nguyên Mông lùa quân sang xâm chiếm nước ta vào đời nhà Trần thì có hai điều phải xác minh ngay. Tương đối mà nói, Nguyên Mông xưa hùng cường hơn TQ ngày nay nhiều (đặt trong bối cảnh lịch sử từng thời kỳ). Và họ dùng quân sự để thôn tính nước khác, vì cách đây 500 năm chưa có những hình thái khác. Ở thế kỷ này, dùng giải pháp quân sự đi xâm lăng là bất cập. Thay vào đó là xâm lăng kinh tế, với sự đồng lõa của quyền lực chính trị địa phương. Thâm-và-hiểm hơn nữa, song song với kinh tế là xâm lăng văn hóa qua phim ảnh, sách báo, truyền hình, xây Văn Miếu, tượng đài… cho chiến lược đồng hóa.
Trở lại đời nhà Trần, Vua gọi họp Hội nghị Diên Hồng tìm đồng thuận toàn dân. Trần Hưng Đạo bỏ thù nhà để lo đền nợ nước, quan tướng một lòng, không chia rẽ vì cái tư riêng, góp sức với nhau cứu lấy sơn hà. Đời nay, thiển nghĩ cũng phải vậy. Xin hãy chấn dân khí, vì dân là nguồn lực chính giữ nước. Nước nhỏ, chúng ta hòa hiếu (theo nghĩa khác hẳn "bạc nhược"). Nằm sát nách một thế lực lớn, chúng ta tránh đụng độ, "nhu" hơn là "cương" - "như" hiểu theo nghĩa không có nghĩa là nằm chết nhẹp. Không "tham-sân-si", nhưng cũng không "bài xích" một người-láng-giềng-lớn. Chúng ta đã từng chung sống hòa bình với nhân dân TQ. Chúng ta có thể tiếp tục sống với họ, bên cạnh họ, trong khuôn khổ "tương kính tương thân".
Ngoài ra, còn kể đến các "anh em xa" - hiểu rộng ra là cả cộng đồng quốc tế muốn xây dựng một thế giới công chính. Phần tôi, tôi tin là có một nhân loại tiến bộ, công bằng, hành xử có chuẩn mực đạo lý, không làm ngơ trước "bá quyền". Người Việt Nam - không chỉ lớp lãnh đạo và chính quyền, làm thế nào để được sự hỗ trợ anh em vừa nói là điều đáng suy ngẫm. Và đó là yếu tố cho phép chúng ta tiếp tục tồn tại như một dân tộc.
http://www.tuanvietnam.net/2009-11-18-trung-quoc-rong-that-hay-voi-giay-

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2012

Đề cương Cải cách giáo dục


Hoàng Tụy

Học sinh đón năm học mới (ảnh minh họa)
Đã đến lúc chúng ta phải có sự lựa chọn: hoặc là tiếp tục con đường cũ, trong nền giáo dục lạc hướng, ngày càng tụt hậu so với thế giới, hoặc là cương quyết thay đổi tư duy, thực hiện bước ngoặc cơ bản, mở đường cho một giai đoạn giáo dục khai phóng phát triển.
Từ lâu giáo dục đã trở thành chỗ nghẽn lớn nhất trong sự phát triển của đất nước. Vì vậy cải cách giáo dục toàn diện và triệt để theo tinh thần các nghị quyết của TƯ là đòi hỏi bức thiết của cuộc sống.

Sau đây là bản kiến nghị đề cương cải cách giáo dục phục vụ yêu cầu phát triển của đất nước trong vài mươi năm tới. Bản đề cương gồm ba phần chính:

I.    Quan điểm tổng quát, cũng tức là triết lý cơ bản của giáo dục mới.
II.    Những vấn đề chính và cấp bách cần giải quyết.
III.     Lộ trình và tổ chức thực hiện.

I.    Quan điểm tổng quát

         Đây có thể coi là vấn đề của mọi vấn đề, nó là cái gốc chi phối từ sứ mạng, phương châm cho đến nội dung, phương pháp, tổ chức giáo dục.

Trong thế giới hiện đại, yêu cầu hội nhập quốc tế đặt ra ngày càng gay gắt cho mọi dân tộc, nếu ta chỉ muốn xây dựng giáo dục theo con đường riêng của mình, thì dù với những lý tưởng đẹp đẽ và dân khí rất cao như trong thời hoàng kim của cách mạng, sớm muộn chúng ta cũng không tránh khỏi bị đào thải trong cuộc cạnh tranh quốc tế quyết liệt. Huống hồ sau 1975 đất nước đã bước sang một giai đoạn lịch sử mới, có biết bao vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội phức tạp trước đây chưa bao giờ gặp. Hơn nữa sau khi giành được độc lập, thống nhất, ta xây dựng lại đất nước trong bối cảnh cả nhân loại chuyển lên nền văn minh trí tuệ. Nhiều cơ hội mới mở ra  từ đây cho những dân tộc giàu tiềm năng như chúng ta, đồng thời đất nước cũng đối mặt với những thách thức to lớn không dễ gì vượt qua nếu không đủ dũng khí chia tay với những tập quán, cách suy nghĩ, làm ăn, ứng xử, từng là nếp sống quen thuộc một thời.


Cho nên ngày nay hơn bao giờ hết, không gì cản trở sự tiến bộ của xã hội hơn thái độ đóng kín, thiếu cởi mở với cái mới, e ngại thay đổi, chủ quan tự mãn, không muốn, không dám nhìn thẳng vào những yếu kém của mình mà chỉ say sưa tự ru ngủ với quá khứ vẻ vang và tự dối mình bằng những thành tích tưởng tượng hoặc giả tạo.


Có thể nói đã sang thế kỷ 21 nhưng giáo dục của ta vẫn còn giữ khá nhiều quan niệm cổ hủ thời phong kiến nho giáo, thậm chí thời trung cổ Châu Âu. Nặng tính giáo điều kinh kệ, nhằm biến con người thành một phương tiện – dù là phương tiện để thực hiện những lý tưởng cao quý – hơn là hoàn thiện con người như một chủ thể tự do. Đã đến lúc cần nhìn thẳng vào thực tế để nhận rõ những hệ luỵ tiêu cực của tình hình đó đối với tương lai dất nước. Thật sai lầm nếu nghĩ rằng cứ áp đặt một ý thức hệ định sẵn vào nội dung và phương pháp giáo dục thì sẽ đào tạo được những con người khuôn theo ý thức hệ đó. Kinh nghiệm thực tế khắp nơi trên thế giới đều cho thấy ngược lại: sự mâu thuẫn xung khắc giữa giáo lý trong nhà trường với thực tế phũ phàng ngoài xã hội thường là nguyên nhân phát sinh và nuôi dưỡng gian dối, đạo đức giả và bạo lực, cuối cùng đưa đến bất ổn trầm trọng trong xã hội.


Lịch sử các nước Phương Tây cho thấy chỉ sau khi thế tục hoá nhà trường, tách nhà trường ra khỏi Nhà Thờ Thiên Chúa Giáo thì khoa học, kỹ thuật hiện đại  mới có điều kiện phát triển mạnh mẽ, đồng thời Nhà Thờ không vì thế mà mất vị trí tinh thần của nó trong xã hội. Đối với chúng ta, mà mục tiêu tối thượng của dân tộc là dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tưởng cũng cần một giải pháp tương tự cho giáo dục mới có thể mở đường chấn hưng đất nước. Cuộc sống từ lâu đã đòi hỏi nhà trường phải thoát khỏi chế độ bao cấp tư tưởng với những ràng buộc giáo lý cứng nhắc đang có tác dụng kìm hãm thay vì khai sáng trí tuệ
1. Thay vào đó, cần đề cao tính nhân văn: rèn luyện nhân cách, phẩm chất trí tuệ, năng lực cảm thụ, ý thức cộng đồng, như trong mọi nhà trường tiên tiến trên thế giới. Đó mới chính là dạy người theo nghĩa cao quý nhất. Một khi sản phẩm của nhà trường là những con người tự do, với nhân cách và phẩm chất hướng theo hệ thống giá trị phổ quát của nhân loại thì cái mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh mới có cơ may hiện thực.  Bằng không, nếu chỉ chăm chăm đào tạo con người theo khuôn mẫu đúc sẵn thì cái mục tiêu ấy mãi mãi xa vời. Bởi lẽ trong một thế giới, một thời đại, đầy biến chuyển khó lường mà thế hệ chúng ta đang trải qua, mọi khuôn mẫu đúc sẵn đều không thể thích nghi được.

Giáo dục hiện đang đứng ở ngã ba đường, giống như kinh tế những năm giữa thập kỷ 80. Nếu lúc bấy giờ ta cứ kiên trì đường lối kinh tế tập trung bao cấp và tiếp tục dị ứng với cơ chế thị trường như hồi 1968, khi đó VN đã cùng với cả phe xã hội chủ nghĩa lên án mạnh mẽ chủ nghĩa xã hội thị trường Tiệp Khắc
2 , thì không biết điều gì đã xảy ra.  May thay, nhờ nhìn thẳng vào thực tế cuộc sống với tinh thần trách nhiệm cao trước nhân dân, chúng ta đã kịp thời nhận ra nguồn gốc bế tắc của xã hội và đã có can đảm thay đổi tư duy, chấp nhận chính cái cơ chế thị trường ngày nào đã bị chúng ta bác bỏ. Đường lối đổi mới nhờ thế đã ra đời, cứu đất nước khỏi sự sụp đổ nhãn tiền. Đó là bài học sâu sắc.

Ngày nay, sau mấy chục năm giáo dục chìm đắm trong khủng hoảng triền miên bởi các ràng buộc ý thức hệ cứng nhắc, đã đến lúc chúng ta phải có sự lựa chọn: hoặc là tiếp tục con đường cũ, tiếp tục giam hãm đất nước trong nền giáo dục lạc hướng, ngày càng tụt hậu so với thế giới, hoặc là cương quyết thay đổi tư duy, thực hiện bước ngoặc cơ bản, mở đường cho một giai đoạn giáo dục khai phóng phát triển.


Đương nhiên đây là công việc không hề dễ dàng vì phải đoạn tuyệt với nhiều quan niệm, cách sống và nếp nghĩ đã ăn sâu trong tâm khảm nhiều thế hệ từ thời chiến đấu giành độc lập thống nhất. Nhưng là giải pháp trước sau gì cũng phải làm, mà càng để chậm trễ thì đất nước càng hụt hơi, càng bị cô lập và khó thích ứng kịp với những biến chuyển bất ngờ trong thế giới văn minh ngày nay.


II. Những vấn đề chính cần giải quyết trong cuộc cải cách giáo dục

    Sau khi đã xác định quan điểm tổng quát về sứ mạng cơ bản của giáo dục, mọi vấn đề cụ thể về tổ chức giáo dục,  nội dung chương trình học các cấp,  phương pháp giáo dục, v.v .  đều phải xem xét giải quyết trên cơ sở quan điểm đó. Bản đề cương này không đi sâu vào các vấn đề cụ thể có tính chất kỹ thuật là phần việc của các chuyên gia sau này mà chỉ tập trung nêu lên những định hướng lớn làm nền tảng và khuôn khổ giải quyết các vấn đề cụ thể ấy.
    Có 4 vấn đề lớn sau đây cần cấp bách giải quyết theo định hướng hội nhập tích cực vào trào lưu chung của thế giới văn minh.
Cuộc sống đã dạy chúng ta quá đủ rằng cách học và thi như hiện nay chẳng những gây lãng phí lớn về công sức, tiền của, thời gian, mà còn khuyến khích phát triển sự dối trá, thói đạo đức giả, là những thứ hư hỏng cần tránh trước hết trong nhà trường.


1. Cải thiện cơ bản chính sách đối với người thầy, giải tỏa nghịch lý lương, để nhà giáo ở mọi cấp an tâm làm việc, toàn tâm toàn ý với trách nhiệm cao cả của mình.


Có thể nói chính sách đối với người thầy là một trong những điểm khác biệt cơ bản của giáo dục VN so với thế giới và là nguyên nhân trực tiếp quan trọng nhất làm tha hóa giáo dục.

Có một nhà khoa học lớn nước ngoài tâm huyết với VN khi được hỏi về điều gì cần thay đổi cấp bách nhất để chấn hưng giáo dục, đặc biệt là đại học, đã không chút ngần ngại nói ngay đó là chế độ lương kỳ quặc không thấy đâu trong thế giới văn minh nhưng đã tồn tại dai dẳng ở VN từ hàng chục năm nay. Một chế độ lương biểu thị không gì khác hơn là sự khinh miệt đối với lao động giáo dục và khoa học, trái hẳn với chủ trương tôn vinh nhà giáo đã được lãnh đạo khẳng định lặp đi lặp lại không biết bao nhiêu lần suốt thời gian qua.

Với đồng lương thấp đến mức khó tưởng tượng, đương nhiên nhà giáo và các quan chức giáo dục đều phải xoay xở để kiếm thêm thu nhập. Chính đó là cái lỗ hổng quản lý gây nên hoặc làm trầm trọng thêm hầu hết các căn bệnh trầm kha đã ra sức tàn phá giáo dục
3.  Chúng ta nói nhiều đến bệnh giả dối, gian trá,  thành tích ảo, v.v. nhưng làm sao chống được các bệnh ấy để có một nền giáo dục trung thực, lành mạnh, nói chi đến hiện đại, nếu cái nguyên nhân gây ra các bệnh ấy nằm ngay trong cơ chế, nói cách khác nằm ngay trong khuyết tật hệ thống của giáo dục ?

Sự thật, nhờ xoay xở đủ mọi cách hợp pháp hay không hợp pháp, hợp lý hay trái với lương tâm, phần lớn nhà giáo, nhất là quan chức giáo dục, nay đã có mức sống không đến nỗi quá tệ, thậm chí một bộ phận nhỏ còn có thu nhập khá. Song cái giá phải trả thật quá đắt. Những giải pháp chữa cháy gần đây theo kiểu “kế hoạch 3” hồi những năm 80 thế kỷ trước, hay cho phép nhiều cơ sở giáo dục vượt rào để xử lý từng trường hợp riêng lẻ về lâu dài rất  nguy hiểm, chỉ gây thêm rối loạn, dẫn đến bất công và tiêu cực ngày càng tệ hại hơn.


Điều không may là giải quyết vấn đề cốt tử này cực kỳ khó vì căn bệnh từ lâu đã thành một thứ ung thư của cả xã hội, chứ không riêng gì của giáo dục, lại gắn liền chặt chẽ với quốc nạn tham nhũng đang ngày càng gia tăng chóng mặt.  Trước mắt chưa thể hy vọng có thể chữa trị nhanh chóng cái ung thư này, cho nên giáo dục phải tìm mọi cách tự cứu lấy mình trong phạm vi có thể, may ra còn nêu gương cho các ngành khác để tiến dần đến một giải pháp chung. Theo tính toán của nhiều chuyên gia, hoàn toàn có cơ sở để tin rằng dù trong phạm vi cả nước còn khó khăn thì ngay trong nội bộ ngành giáo dục, vẫn có thể  rà soát lại cơ chế tài chính, kiên quyết bỏ hay giảm bớt mọi khoản chi tiêu không hiệu quả, trên cơ sở đó tăng lương, bảo đảm lương đủ sống và dần dần trở thành thu nhập chính của mỗi người, từ đó lập lại kỷ cương, đạo đức trong giáo dục. 

 
Trong một xã hội mà đời sống kinh tế bị thao túng nặng nề bởi các “nhóm lợi ích”, ai cũng thấy đây là việc vô cùng khó, tuy khả thi về điều kiện vật chất khách quan nhưng chắc chắn sẽ vấp trở ngại cực kỳ lớn. Biết thế, song giáo dục là lĩnh vực cần bảo vệ trong sạch nhất, nếu không cương quyết làm bây giờ mà cứ trì hoãn mãi thì sẽ ngày càng khó hơn và sẽ chẳng bao giờ có hy vọng trả lại lòng tự trọng cho giáo dục, chẳng bao giờ xây dựng được một nền giáo dục lành mạnh, trung thực, hiện đại.

2. Cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục phổ thông và dạy nghề

Hệ thống giáo dục THPT hiện tại có hai lãng phí lớn.

Lãng phí thứ nhất là hàng năm có một số lớn thanh niên tốt nghiệp THPT không qua lọt cánh cửa ĐH, CĐ, phải bước vào thị trường lao động, chịu bằng lòng với một việc làm đơn giản (không cần tay nghề), dù đã tốn 12 năm đèn sách, hoặc phải chấp nhận vào học nghề ở một trường trung cấp kỹ thuật vốn chỉ đòi hỏi trình độ THCS. Trong khi đó vì thiếu công nhân lành ghề và kỹ thuật viên thông thạo nên công nghiệp phụ trợ không phát triển nổi, sau mấy thập kỷ xây dựng công nghiệp mà cuối cùng  chỉ có lắp ráp, xuất khẩu tài nguyên thô, thì làm sao giàu được. Tình trạng lãng phí đó vừa thiệt hại cho xã hội vừa tạo mầm mống bất ổn trong thanh niên.


Lãng phí lớn thứ hai, khó thấy hơn, nhưng nghiêm trọng hơn, là cách học và thi quá lạc hậu ở THPT gắn liền với thói hư học cổ lỗ, hoàn toàn không chú ý các đặc điểm và đòi hỏi của lứa tuổi, làm phí sức học sinh một cách vô ích, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tâm lý, đến tương lai nghề nghiệp của một số khá đông, lại rất tốn kém cho gia đình và xã hội. Trẻ em ta học hết 12 năm THPT thì mệt nhoài, lên đại học và trên nữa thường mau đuối sức khi đua tranh với bạn bè các nước mà ở đó tuổi thiếu niên vừa được học vừa được chơi, chơi mà học, để dành sức sau này có thể tiến lên xa vào những giai đoạn quyết định của cuộc đời.
Muốn hội nhập quốc tế thành công, tiến lên một nền đại học thật sự hiện đại, trước hết phải từ bỏ lối nghĩ đó, khiêm tốn học hỏi, tuân thủ các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, điều gì muốn làm khác thì cần suy nghĩ cẩn trọng và có lý do thật xác đáng.


Để khắc phục những bất hợp lý trên cần cải tổ hệ thống giáo dục để sau THCS có hai nhánh rẽ: một số lớn học sinh (khoảng 2/3) sẽ vào trung học hướng nghiệp, chỉ 1/3 vào trung học phổ thông. Học xong trung học hướng nghiệp có thể đi ngay vào thị trường lao động tìm một việc làm có nghề nhưng nếu muốn cũng có thể học lên cao hơn (cao đẳng hay đại học) vì chương trình học, ngoài phần hướng nghiệp, vẫn bảo đảm phần văn hoá cơ bản cần thiết. Còn trung học phổ thông có nhiệm vụ chủ yếu chuẩn bị đầu vào cho đại học. Theo hướng đó cần phát triển mạnh trung học hướng nghiệp, đồng thời cấu trúc lại chương trình và cách học ở trung học phổ thông cho phù hợp với nhiệm vụ của cấp học này.  Cụ thể là bãi bỏ cách phân ban bất cập hiện nay để tổ chức lại việc học như ở nhiều nước tiên tiến, về mỗi môn học đều có một chương trình bình thường và một hoặc nhiều chương trình nâng cao, theo nhiều mức độ nâng cao khác nhau, cho phép học sinh được tự do lựa chọn chương trình nào hợp sức và hợp sở thích, đồng thời dễ dàng điều chỉnh sự lựa chọn khi thấy cần thiết. Với cách học đó học sinh cả trung học hướng nghiệp và trung học phổ thông đều không bị quá tải, vì được học sâu những môn ưa thích và không phải học quá kỹ nhiều thứ mà sau này sẽ chẳng bao giờ cần đến. Đó mới là cách thực tế và hiệu quả giảm tải ở cấp học phổ thông, chứ không phải như hiện nay, chương trình bị kẹt giữa hai yêu cầu mâu thuẫn: vừa giảm tải vừa không hạ thấp chất lượng.  Hơn nữa về những môn hợp với xu hướng sở thích thì  học sinh có cơ hội được học đủ sâu để đến khi tốt nghiệp có đủ hiểu biết  tìm được việc làm có nghề, và nếu xuất sắc thì khi học tiếp lên ĐH hay CĐ có thể học vượt lớp, tiết kiệm thời gian. Như thế tránh được nhiều sự lãng phí cho cả xã hội lẫn cho từng cá nhân học sinh. Tuổi 15-18 là tuổi vàng, nhiệm vụ của nhà trường là tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát triển đến mức tối đa của mình, chứ không phải chỉ nhằm bảo đảm cho mọi cá nhân môt mức tối thiểu đồng loạt như cách dạy hiên nay ở THPT
4.

3. Thay đổi căn bản cung cách học và thi, xoá bỏ
thi cử nặng nề, tốn kém mà kém hiệu quả

Đồng thời với cải tổ hệ thống giáo dục, thì cách học, cách thi cử và đánh giá cũng phải thay đổi tận gốc. Đặc biệt cần đổi mới căn bản tư duy thi tốt nghiệp và tuyển sinh. Trong một nhà máy làm ra một sản phẩm gồm nhiều bộ phận riêng rẽ (môđun) ghép lắp lại, người ta phải kiểm tra kỹ chất lượng khi sản xuất từng bộ phận, đến khi lắp ráp chỉ kiểm tra chất lượng lắp ráp. Việc học và thi trong nhà trường cũng vậy: mỗi môn, mỗi học phần như một môđun, học môn nào, học phần nào phải kiểm tra, thi nghiêm túc ngay môn đó, phần đó, đến cuối cấp không thi lại từng môn, từng học phần nữa, mà chỉ phải làm một tiểu luận hoặc qua một kỳ thi nhẹ nhàng, với mục đích chủ yếu kiểm tra trình độ văn hóa phổ quát (giống như kiểm tra chất lượng lắp ráp các môđun trong nhà máy). Hơn nữa, kỳ thi nhẹ nhàng này cũng có thể không bắt buộc cho mọi người mà có thể coi như một kỳ thi sơ tuyển (ST) vào ĐH, CĐ chỉ bắt buộc đối với những ai muốn vào học ĐH, CĐ.  Còn việc tuyển sinh vào ĐH, CĐ thì cần trả lại cho từng trường. Mỗi trường tuyển sinh căn cứ vào kết quả thi (ST) và học bạ hoặc qua một kỳ thi tuyển nếu trường nào có yêu cầu đào tạo đặc biệt
4.
 
 Cách học và thi như thế khác hẳn cách học và thi hiện nay là dồn tất cả sự kiểm tra vào cuối cấp trong một kỳ thi tốt nghiệp mà nhiều người cho là thi vờ vì chỉ để loại vài phần trăm thí sinh, là những em quá kém không cần thi cũng có thể loại được theo học bạ.  Có ý kiến cho rằng tuy thi vờ nhưng là cần thiết vì tâm lý học sinh là có thi thì mới học tử tế5.  Té ra là vậy: đất nước còn rất nghèo mà phải tốn kém hàng chục nghìn tỉ mỗi năm tổ chức thi chỉ để dọa và gây áp lực buộc học sinh phải học. Cùng một luồng ý kiến đó nhiều quan chức giáo dục cho rằng trong điều kiện hiện thời, thầy cô giáo chịu quá nhiều áp lực không lành mạnh từ phía xã hội nên rất khó bảo đảm việc học và thi nghiêm túc từng môn, từng học kỳ, ở từng lớp, từng địa phương được. Cho nên không còn cách nào khác là phải thi tôt nghiệp, dù chỉ là thi vờ.  Nói thế khác nào bảo một nền giáo dục trung thưc là ngoài tầm với của xã hội ta hiện nay – thật lạ lùng và xót xa, vì một nền giáo dục trung thực đâu có gì quá khó, nó đã từng có ở cả hai Miền Bắc và Nam suôt từ 1945 đến 1975. Một ý kiến xác đáng hơn là quy một phần nguyên nhân phát triển gian trá trong thi cử là do chương trình quá nặng, mà thi tốt nghiệp lại quá căng thẳng: thi viết gần hết các môn trong thời gian chỉ mấy ngày, tiềm ẩn rủi ro học tài thi phận, khiến một số học sinh dễ nảy ra tư tưởng đối phó bằng thủ đoạn gian dối, cầu cứu đến cả sự giúp sức của phụ huynh và thầy cô giáo. Đúng là chương trình quá tải cũng là một vấn đề, nhưng không thể giảm tải theo kiểu cắt giảm lung tung như chúng ta đã làm lâu nay mà chủ yếu phải cải tổ cả hệ thống giáo dục phổ thông như đã trình bày ở trên, chấm dứt cách giáo dục đồng loạt, quá nặng với số đông lại quá nhẹ với số có khả năng. Đông thời để bảo đảm tính trung thực, trước hết phải thực hiện kiểm tra, thi học kỳ nghiêm túc, nghĩa là trung thực, ngay từ những lớp nhỏ nhất chứ không đợi đến cuối cấp. Khi đó mới có thể thi tốt nghiệp nhẹ nhàng, chỉ cốt để kiểm tra chất lượng tổng hợp, tức là trình độ văn hóa phổ quát, hoặc thậm chí chỉ xét kết quả học tập theo học bạ để cho tốt nghiệp mà không phải thi.

Điều quan trọng ít người chú ý là lối thi tôt nghiệp và tuyển sinh như hiện nay tạo ra áp lực tâm lý và tinh thần rất lớn, đặt thí sinh trước những thử thách vượt quá khả năng chịu đựng của các em. Trong một xã hội mà xung quanh quá nhiều dối trá, rất hiếm trung thực, nếu đặt thiếu niên trước những thử thách trung thực quá sức thì cũng chẳng khác nào đưa trẻ ra phơi nhiễm giữa một vùng đang dịch bệnh, làm sao trẻ tránh không bị nhiễm. Cho nên chẳng lạ gì kỳ thi nào cũng có chuyện quay cóp, gian dối, mà những chuyện đã bị phanh phui chỉ là phần nổi của tảng băng. Cuộc sống đã dạy chúng ta quá đủ rằng cách học và thi như hiện nay chẳng những gây lãng phí lớn về công sức, tiền của, thời gian, mà còn khuyến khích phát triển sự dối trá, thói đạo đức giả, là những thứ hư hỏng cần tránh trước hết trong nhà trường.


4. Chuyển mạnh giáo dục đại học theo hướng hiện đại hóa và hội nhập quốc tế về cả nội dung, phương pháp và tổ chức quản lý


Chỉ nhìn qua hệ thống đại học VN hiện nay cũng đã thấy cảnh tượng lộn xộn, rất khác mọi nơi trên thế giới: trường nào, kiểu gì, cũng gọi là đại học, trong một đại học lại có thể có nhiều đại học thành viên, dịch ra tiếng Anh tất cả đều là university, không phân biệt university với school, ai muốn hiểu ra sao thì hiểu
6. Đành rằng đây chỉ là vấn đề tên gọi, nhưng nó cũng phản ảnh một nét riêng “không giống ai” của đại học VN. Đi sâu hơn vào hoạt động cụ thể của đại học càng thấy rõ sự tụt hậu  bắt nguồn từ lối suy nghĩ chủ quan tự cho mình có thể tự biên tự diễn, bất chấp thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Cho nên muốn hội nhập quốc tế thành công, tiến lên một nền đại học thật sự hiện đại, trước hết phải từ bỏ lối nghĩ đó, khiêm tốn học hỏi, tuân thủ các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, điều gì muốn làm khác thì cần suy nghĩ cẩn trọng và có lý do thật xác đáng. Chúng ta đang rớt lại sau đuôi thiên hạ, tại sao cứ muốn làm độc đáo, khác người để mãi mãi thất bại ? Ngay đến một nước có truyền thống khoa học, giáo dục lâu đời như Pháp mà cách đây 30 năm khi đánh giá nền đại học lúc ấy của họ nhà khoa học lỗi lạc Pháp L. Schwartz  cũng đã từng lên tiếng: “nếu Pháp là nước duy nhất trên thế giới còn muốn giữ lại mãi một số quan niệm cũ về giáo dục đại học thì hoặc chúng ta đúng và nền đại học của ta phải là tiên tiến và được ngưỡng mộ nhất thế giới – điều rõ ràng không phải vậy – hoặc chúng ta sai và cần phải thay đổi.” Cho hay yêu cầu cùng đi con đường chung với cả thế giới không phải chỉ đặt ra cho các nước kém phát triển.

Cái khó là trước đây hệ thống giáo dục đại học của ta phỏng theo mô hình giáo dục đại học Liên Xô cũ. Đến khi nhận rõ mô hình đó không còn thích hợp mà phải thay đổi theo yêu cẩu  mới của công cuộc phát triển đất nước, ta lại không có những nhà quản lý đủ hiểu biết chuyên nghiệp cần thiết và nắm vững tính hệ thống nên cứ thay đổi nham nhở, chắp vá, cuối cùng biến giáo dục đại học thành một hệ thống đầu Ngô mình Sở, chẳng giống ai cả. Đã thế mà từ 2006  lại mạo hiểm lao theo chiến lược tân tự do trong phát triển giáo dục, cổ suý giáo dục là hàng hóa, phát triển mạnh trường tư vị lợi, cổ phần hóa đại học công, v.v.
7 Trong khi đó, mọi vấn đề từ chế độ tiền lương, chính sách sử dụng tài năng, từ việc đào tạo sau cử nhân, phương thức đào tạo liên ngành, cho đến tuyển dụng, bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư, bảo đảm tự chủ đại học, xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học, tự do học thuật, tất cả đều ở trạng thái cổ hủ, lạc hậu. Chẳng khác nào đường sá thì lầy lội gồ ghề, đầy ổ trâu ổ gà, lại chủ trương nhập xe hơi xịn phóng nhanh cho oai.  Chính cái tâm lý chưa biết đi đã đòi chạy, cái lối học kinh nghiệm thế giới theo kiểu thầy bói sờ voi đó là nguồn gốc tất cả những yếu kém, khó khăn của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam dù đã tốn không ít công sức xây dựng qua mấy thập kỷ.

Công bằng mà nói, từ vài năm lại đây, sau nhiều bài học thất bại, nhận thức cũng đã có ít nhiều thay đổi, nhờ đó đã có những cố gắng tich cực hướng tới hội nhập quốc tế. Tuy nhiên kết quả còn rất hạn chế, do sức ỳ quán tính của bộ máy quản lý còn nặng, do tư duy vẫn luẩn quẩn trong những giáo điều dai dẳng và những ràng buộc thể chế ngặt nghèo. Rõ nhất là về mục tiêu, sứ mạng đại học, về phương thức đào tạo, về quyền tự chủ đại học và tự do học thuật, nghĩa là về các vấn đề then chốt nhất của đại học hiện đại, quan niệm chung của chúng ta còn rất mơ hồ, lệch lạc, có mặt lạc hậu nửa thế kỷ.


Cho nên thách thức lớn nhất của giáo dục hiện nay là hiện đại hóa đại học, đưa đại học hội nhập thật sự vào con đường phát triển chung của thế giới. Hãy dứt khoát rủ bỏ những gì lạc hậu, trì trệ còn níu kéo chúng ta để chuyển mạnh theo mô hình giáo dục đại học Hoa Kỳ là mô hình được thừa nhận tiên tiến và đang được áp dụng phổ biến trên thế giới. Có thể nói thành bại của cuộc cải cách giáo dục một phần quyết định tùy thuộc tiến trình hiện đại hóa đại học này.


III.  Lộ trình và tổ chức thực hiện


Cải cách giáo dục cần phải được thực hiện kiên quyết, khẩn trương, nhưng không vội vã.  Sau khi Trung Ương và Quốc Hội thảo luận và thông qua đề cương cải cách nêu lên phương hướng chính cùng với những khâu mấu chốt cần giải quyết trong cải cách, thì cần thành lập Ủy Ban Quốc Gia Chỉ Đạo Cải Cách Giáo Dục, bao gồm những người có năng lực và có tâm huyết, vừa có tầm nhìn vừa thật sự quan tâm, lo lắng cho giáo dục.  Ủy ban này sẽ vạch ra lộ trình và kế hoạch thực hiện cụ thể để có thể hoàn tất công cuộc cải cách sau khoảng một thập kỷ. Trước mắt để thực hiện được cải cách ở những khâu cấp bách phải tổ chức nghiên cứu  những vấn đề cụ thể như chương trình và sách giáo khoa cho các cấp phổ thông, phương pháp giảng dạy ở các cấp, đổi mới thi cử, v.v. theo quan điểm tư duy mới. Biết rằng trong hiện tình đất nước có vô vàn khó khăn, nhưng đây cũng là thời cơ để giáo dục có thể lột xác, từ một kiểu giáo dục nặng tính giáo điều, lạc hậu và lạc điệu với thời đại và thế giới, tiến lên một nền giáo dục khai sáng, lành mạnh, trung thực, hiện đại, phù hợp xu thế tiến hóa chung của nhân loại và đáp ứng lợi ích tối cao
của đất nước. 

----------

Chú thích:

1 : Một trong những nguyên lý bất khả tranh luận chỉ đạo nền giáo dục trước đây một thời là  giáo dục phải tuyệt đối phục tùng chính trị, trong nhà trường chính trị là thống soái, trong hai vế “hồng” và “chuyên” thì “hồng” là tiên quyết. Mặc dù qua cọ xát thực tế nguyên lý ấy đã buộc phải nới lỏng nhiều, nhưng nó vẫn còn ảnh hưởng đậm nét trong nhiều khâu quan trọng về nội dung, phương pháp giáo dục, về rèn luyện đạo đức, về cách tuyển chọn, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá, cất nhắc cán bộ.

2 : Do Dubcek, nhà lãnh dạo Tiệp Khắc khi ấy, khởi xướng. Ông này sau đó đã bị lật đổ trong một cuộc can thiệp quân sự mạnh mẽ của Liên Xô mà hồi ấy cả khối xã hội chủ nghĩa đều ủng hộ.

3 : Cái phần thu nhập thêm ngoài lương đó thật ra cũng từ ngân sách hoặc từ đóng góp của người học, nhưng bắt buộc nhà giáo phải mất sức làm thêm nhiêu việc không hợp lý (chủ yếu là dạy thêm, dưới nhiều hình thức). Thành ra  thay vì trả lương đủ một cách đương hoàng thì người ta  chia lương ra thành hai phần:  một phần nhỏ, goi là lương chính thức, quy định chặt chẽ, còn phần kia (cũng từ ngân sách hoặc đóng góp của dân)  thì tùy thuộc sự xoay xở của mỗi người – chức càng cao khả năng và phạm vi xoay xở càng lớn.

4 : Gần đây có nhiều ý kiến đề nghị rút thời gian trường phổ thông xuống còn 11 năm. Theo tôi điều này chỉ đặt ra với trường phổ thông được quan niệm như hiện nay là học thẳng một mạch, tôt nghiệp thì ra đời hoặc học lên đại học. Với trường phổ thông quan niệm như vậy sẽ không tránh khỏi hai bất cập lớn của trường phổ thông hiện nay như trên đã phân tích (chỉ có khác là 11 năm thay vì 12 năm).  Còn để có học vấn phổ thông phổ cập khi ra đời thì chỉ cần 9 năm THCS như đề nghị của chúng tôi là đủ, sau đó hoặc học trung học hướng nghiệp, hoăc trung học phổ thông để chuẩn bị đầu vào đại học.

5: Để biện minh chủ trương duy trì thi tốt nghiệp THPT một số quan chức giáo dục thường viện lẽ trên thế giới bất cứ nước nào cũng có thi tốt nghiệp. Đây là thông tin sai, nhất là nếu hiểu thi tôt nghiệp là thi theo kiểu ta. Nhân đây tôi nhớ lại khi bàn về phân ban ở THPT trước đây 8 năm một số người muốn bênh vực cách  phân ban cứng nhắc của ta thường viện dẫn lý do phần lớn các nước trên thế giới đều làm như vậy, thậm chí còn dẫn ra ở Thụy Điển THPT có đến cả vài chục ban. Hỏi ra mới biết đó là do hiểu sai cách tổ chức học ở THPT Thụy Điển và nhiều nước khác.

6 : Trươc kia ở Miền Bắc, theo mô hình Liên Xô và các nước Đông Âu, chỉ Đại học Tổng hợp mới dịch là University, cho nên Hanoi University là dịch tên Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nay có Đại Học Hà Nội mới mở, cũng gọi là Hanoi University nhưng hoàn toàn không liên quan với Đại học Tổng hợp xưa.  Thật là rối.

7: Một nét khác biệt, không giống ai cả, của đại học công lập VN là bên cạnh hệ chính quy, còn có hệ “ngoài ngân sách”,  học phí cao của sinh viên hệ này dùng để tăng thu nhập cho thầy  dạy, bù vào lương chính thức quá thấp. Đây thực chất không khác gì  một loại trường tư trá hình, ghép vào trường công để sử dụng phương tiện của trường công. Nếu kể càc hệ này là ngoài công lập thì thật ra tỉ lệ sinh viên ngoài công lập ở VN phải đến 60-70% chứ không ít hơn,  Ở nhiều nơi số sinh viên tuyển vào hệ này xấp xỉ số sinh viên chính quy, tạo ra một nguồn thu nhập khá  cho thầy dạy, với cái giá phải trả là tăng gấp đôi hoặc hơn số giờ dạy cho các thầy, vừa hạ thấp chất lượng đào tạo ngay trước mắt, vừa khiến cho thầy dạy không còn thì giờ nghiên cứu khoa học hoặc học thêm nâng cao trình độ. Số này sau một số năm như vậy, nếu có được cử đi du học thì sức bật cũng không còn nhiều, còn nếu cứ tiếp tục ở lại trường thì ngày càng đuối sức so với yêu cầu, không theo kịp được đà tiến nhanh của khoa học, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng về lâu dài.
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5739

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2012

Cần phản tư về nguyên nhân gốc của sự suy thoái văn hóa và giáo dục

VHNA : Văn hoá và giáo dục  gắn liền với cuộc sống và số phận của mỗi người dân, mỗi gia đình và cả cộng đồng quốc gia – dân tộc. Rõ ràng là văn hoá và giáo dục của nước ta trong nhiều thập kỷ qua có nhiều biến động và sa sút, xuống cấp. Cả xã hội đã và đang bàn về vấn đề này và cho đến nay vẫn đang ở trong vòng quanh co, chưa có một đường hướng rõ ràng, cụ thể để đưa văn hoá và giáo dục nước nhà thoát ra được cuộc khủng hoảng với những hy vọng có cơ sở. VHNA giới thiệu cuộc trao đổi của nhà văn Nguyên Ngọc với TS Nguyễn Thị Từ Huy với hy vọng góp một tiếng nói đáng tham khảo với bạn đọc.
Nguyễn Thị Từ Huy:  Thưa nhà văn Nguyên Ngọc, từ nhiều năm nay, sự xuống cấp của văn hóa và giáo dục đã trở thành một sự thật hiển nhiên với quá nhiều bằng chứng được nêu công khai trên báo chí, và mỗi một cá nhân hay mỗi một gia đình đều trải nghiệm nó trong đời sống hàng ngày. Thực ra văn hóa và giáo dục liên quan rất chặt chẽ với nhau. Là một người làm việc trong cả hai lĩnh vực, và đặc biệt quan tâm tới cả hai lĩnh vực (nói điều này có vẻ thừa nhưng thật ra lại không thừa, vì thực tế là hiện nay ở ta nhiều người làm việc trong lĩnh vực giáo dục mà không quan tâm đến giáo dục, làm việc trong lĩnh vực văn hóa mà không quan tâm đến văn hóa), nhà văn có thể nói rõ hơn về việc sự xuống cấp của cái này kéo theo sự xuống cấp của cái kia như thế nào ? Đâu là căn nguyên sâu xa của tình trạng suy thoái của văn hóa và giáo dục hiện nay?
Nguyên Ngọc:  Trước hết xin nói về quan hệ giữa văn hóa và giáo dục. Có thể nhận thấy điều này: ở nhiều nước và là những nước tiên tiến, bộ trưởng giáo dục hầu như bao giờ cũng là nhà văn hóa lớn. Hơn thế nữa, khi nảy sinh những vấn đề quan trọng về giáo dục, vị bộ trưởng ấy, hoặc chính thủ tướng chính phủ, thường mời một hay một số nhà văn hóa lớn, có tầm bao quát sâu rộng về xã hội, thậm chí là nhà triết học xã hội hàng đầu, làm cố vấn, nghiên cứu, thiết kế, đề xuất những dự án căn bản về cải cách giáo dục. Và nhiều nhà văn hóa lớn thường cũng là nhà giáo dục lớn. Trường hợp Edgar Morin ở Pháp là như vậy. Edgar Morin cố gắng nhận diện xã hội trước những chuyển biến có tính cách mạng của thời đại tác động dữ dội đến tư duy và cuộc sống của con người, để suy nghĩ, bàn luận và đưa ra những kiến nghị cơ bản đối với giáo dục.
Như vậy, nói theo cách nào đó, những vấn đề của văn hóa và của giáo dục là một. Đó là những vấn đề con người của một xã hội, với tất cả những điều kiện để lại từ quá khứ, những hoàn cảnh hiện tại, và những thách thức sẽ đến, phải đối diện để tồn tại và phát triển. Vấn đề lớn nhất của giáo dục bao giờ cũng là vấn đề văn hóa (của xã hội); và để giải quyết văn hóa trong một xã hội, giáo dục phải lãnh vai trò quan trọng nhất.
Ở ta hiện nay nói rằng văn hóa và giáo dục xuống cấp, cái này kéo theo cái kia, trong cả xã hội xuống cấp, thì là cách nói chẳng có gì mới. Tôi nghĩ cần chú ý và nói rõ hơn điều này: đà lao xuống dốc đang tăng tốc đáng sợ và khủng hoảng đã đến báo động đỏ, cảm giác chung là đụng đến đâu cũng chạm phải hỗn loạn, mục ruỗng, từ cái cơ bản cho đến cái chi tiết, cụ thể. Tất nhiên là phải tìm nguyên nhân, nhưng trong một tình hình cực đoan đến vậy thì phải tìm nguyên nhân rất xa, phải trở lại xa. Tôi thường cố suy nghĩ về điều này và bắt gặp một lý giải có thể rất gần gũi với ta. Đấy là những ý kiến của Maxime Gorki năm 1918, nghĩa là ngay giữa những ngày sôi nổi của cách mạng tháng Mười Nga. Tỉnh táo lạ thường ngay trong không khí hứng khởi tột cùng ấy, với tư cách của một nhà văn hóa lớn, cực kỳ dũng cảm và đầy trách nhiệm ông viết : « ... Cách mạng đã đánh đổ nền quân chủ, điều đó đúng! Nhưng điều đó có lẽ cũng có nghĩa rằng cuộc cách mạng đã mang chứng bệnh ngoài da vào bên trong bên trong nội tạng. Người ta không được phép tin rằng cách mạng đã chữa trị và làm phong phú cho nước Nga về mặt tinh thần ... ». Sau 1975, chúng ta đã không đủ tỉnh táo và cả dũng cảm để nhận ra và nói rõ rằng cách mạng và chiến tranh giải phóng anh hùng 30 năm đã giành lại được độc lập và thống nhất cho đất nước, nhưng những căn bệnh chí tử của xã hội đã khiến dân tộc phải đối mặt với những nan đề văn hóa và xã hội mà một trăm năm trước các nhà duy tân sáng suốt nhất thời ấy đã nhận ra và cố tìm cách giải quyết. Những nan đề lớn và lâu dài, cơ bản đó một trăm năm nay vẫn còn nguyên đấy. Còn nguy hơn, nó lặn vào trong nội tạng. Chúng ta đã không đủ tỉnh táo và dũng cảm để như Gorki biết và nói rõ rằng cách mạng và chiến tranh rất vĩ đại nhưng không chữa trị được cho đất nước và xã hội về mặt tinh thần.
Hơn thế nữa, những phương tiện đã buộc phải mượn để chiến thắng với bất cứ giá nào trong cách mạng và chiến tranh, éo le vậy, vừa cần thiết cấp thời lại vừa có « phản ứng phụ »  không tốt đối với xã hội và con người. Nghĩa là nội tạng của xã hội vừa còn nguyên bệnh mãn tính cũ, lại vừa nhiễm thêm bệnh mới, như ta biết có chỗ đến tận những tế bào cơ bản nhất của cơ thể xã hội. Nếu không thì làm sao giải thích được sự sa sút cứ như « đột ngột », lạ lùng, lại ngay sau chiến thắng huy hoàng?
Ai cũng biết lịch sử không có « nếu ». Lịch sử thì đã là lịch sử. Nhưng nhận ra những gì lịch sử đã tạo dựng cho hôm nay và những gì lịch sử để lại nợ nần hôm nay phải biết và phải trả, bao giờ cũng là cần.
Chẳng nên trách ai. Trách chăng là ta đã không đủ hiền minh để tỉnh táo sau 1975.  Vậy thì bây giờ cần tỉnh táo. Và dũng cảm nhìn vào sự thật thẳng thắn và sòng phẳng. Hầu như đó là con đường sống duy nhất.
 NTTH : Tuy nhiên, dường như có sự khác biệt rất lớn trong đánh giá về thực trạng của giáo dục và văn hóa. Theo ông những bộ phận nào trong xã hội cảm thấy lo lắng và hiểu rõ các bất cập của hai lĩnh vực này, những bộ phận nào của xã hội chúng ta cảm thấy hài lòng, thậm chí còn cố gắng duy trì tình trạng hiện nay. Và vì sao ?
 Nguyên Ngọc:  Thực ra ngay trong mỗi bộ phận trên - nếu ta cứ cho là có hai bộ phận như thế - cũng có những khác biệt. Thấy suy thoái và lo lắng về suy thoái thì nhiều, song nhận thức về tính chất của suy thoái thì khá khác nhau. Phần đông nhìn ở những nguyên nhân gần, ở chủ trương, chính sách này nọ, hoặc ở tính khí, phẩm chất của cá nhân này cá nhân kia ... Và khi thấy thay đổi những cái đó rồi hóa ra cũng lại y như cũ thì hoang mang, chán nản. Một bộ phận nhỏ nhìn xa hơn, nhưng do những e dè kiêng kị đã thành nếp cũng không dám truy tìm cho đến cùng. Đấy là nói về phía nhân dân rộng rãi, không bị chi phối nhiều bởi những lợi ích do chính sự suy thoái kia đem lại.
Đối lại ở phía bên kia là những người hài lòng với tình trạng hiện nay, trong đó có số do mù quáng, chai lì vì quán tính giáo điều đã quá lâu, và do bị bưng bít có chủ ý cũng có.
Cuối cùng là những người thật sự ra sức duy trì tình trạng này, dùng toàn bộ sức mạnh để bảo vệ nó. Đơn giản chỉ vì lợi ích ích kỷ bất chấp tất cả của họ. Bao giờ cũng vậy, số này không nhiều, nhưng là mối nguy chính, trước mắt và lâu dài.
NTTH :  Nhiều vấn đề cốt lõi của văn hóa giáo dục đã được thảo luận từ lâu, nhiều kiến nghị đề xuất đã được đưa ra từ lâu. Nhiều đề xuất dựa trên các nghiên cứu cẩn thận, chẳng hạn như các đề xuất của nhóm các học giả nước ngoài Ben Wilkinson (Trường Kennedy, đại học Harvard) và Laura Chirot (trường New School). Tuy nhiên, tình hình chung là các kiến nghị đó, các đề xuất đó đều bị rơi vào im lặng và quên lãng. Và theo thời gian thì mọi việc càng ngày càng tồi tệ hơn. Đã đến lúc chúng ta cần phải phân định một cách rạch ròi trách nhiệm mà mỗi người, mỗi bộ phận chức năng phải đảm nhận. Ở đây ta chỉ nói đến hai bộ phận sau : bộ phận quản lý (với các cấp khác nhau), bộ phận thực hiện (giảng viên giáo viên trong lĩnh vực giáo dục, những người làm công việc phổ biến, truyền bá trong lĩnh vực văn hóa). Theo ông, các bộ phận này đã đóng vai trò như thế nào trong quá trình suy thoái của văn hóa và giáo dục ?
 Nguyên Ngọc:  Đã có những kiến nghị sâu sắc, khá toàn diện, tâm huyết, không chỉ của các chuyên gia và tổ chức nước ngoài, mà ngay của các trí thức và tổ chức trong nước. Nói chung đến nay tất cả đều bị bỏ qua, không chỉ không hề có phản hồi, mà thậm chí không được ngó qua, đếm xỉa đến. Có một sự tắc trách, vô cảm đến kỳ lạ ở những người và những bộ phận có trách nhiệm. Song mặt khác, theo tôi có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, các kiến nghị ấy đều dừng lại ở mấp mé của nguyên nhân gốc, dù nếu với thiện chí và chăm chú đôi chút người đọc cũng có thể nhận ra những ý tứ không quá che kín. Tôi nghĩ đã đến lúc sòng phẳng nói ra một lần cho rõ, bởi chắc chắn nếu không nhìn thẳng đến tận đấy thì rồi sẽ cứ lẩn quẩn mãi trong bế tắc lùng nhùng, không sao gỡ ra được, như lâu nay đã là thế.
Tôi không chia những người phải chịu trách nhiệm thành bộ phận quản lý và bộ phận thực hiện. Tôi nghĩ theo cách khác: Cần có một sự phản tư cơ bản của toàn xã hội về nguyên nhân gốc của suy thoái, tất nhiên trước hết là ở những bộ phận có trách nhiệm và có quyền ở tầm vĩ mô, song rồi sau đó cũng phải thành nhận thức chung của mọi người. Một sự nhìn nhận lại thẳng thắn và bình tỉnh.Nhân đây tôi cũng muốn nói rõ thêm điều cần thiết này. Khi ta nói thẳng chẳng hạn về sự sa sút tệ hại của giáo dục thì không nên nghĩ đó là đánh giá chung về phẩm cách của tất cả những người thầy giáo chúng ta. Thậm chí ngược lại, có thể nói trong tình trạng chung hiện nay, còn giữ được giáo dục chưa đổ nát hoàn toàn là công của những giáo viên và cán bộ giáo dục vô danh tâm huyết, nhất là ở cơ sở. Tuy nhiên lại cũng phải nói rằng thật khó cho họ giữ mình trọn vẹn dưới áp lực của một nền giáo dục dang suy thoái có tính chất hệ thống như vậy. Gần đây, trong một ngữ cảnh khác có người đã dùng đến cách nói « tội làm hỏng dân ». Ai làm hỏng ? Đương nhiên là cái hệ thống kia.
 NTTH :  Nếu không có sự cải thiện, nếu chúng ta tiếp tục tuột dốc như hiện nay thì sẽ có những nguy cơ nào cho tương lai chung của chúng ta.
 Nguyên Ngọc :  Nguy cơ đã nhãn tiền: sẽ mãi mãi là một đất nước lạc hậu lân đận ở hàng cuối nhục nhã ngay cả đối với trong khu vực, và do đó cả an nguy của quốc gia cũng bị thách thức.
 NTTH :  Cuối cùng, để có thể cải thiện tình trạng văn hóa và giáo dục hiện nay, những người quản lý văn hóa và quản lý giáo dục cần có những năng lực nào, những phẩm chất nào ?
 Nguyên Ngọc :  Đương nhiên có rất nhiều chuyện cụ thể phải giải quyết về văn hóa và giáo dục. Nhưng tất cả đều chỉ có thể giải quyết đến nơi đến chốn trong một tổng thể mới trên cơ sở phản tư sâu sắc về nguyên nhân gốc của suy thoái. Nếu không thì cố gắng đến mấy cũng sẽ chỉ là vá víu lặt vặt, có khi càng làm rối và nặng thêm tình hình.
Vì vậy tôi cho rằng năng lực và phẩm chất quan trọng nhất của người làm văn hóa và giáo dục hiện nay trước hết là năng lực truy tìm đến nơi đến chốn nguyên nhân gốc của khủng hoảng, và ý chí thay đổi trên nhận thức sâu sắc đạt được ấy.
Cũng tất nhiên trước hết là ở người chịu trách nhiệm và có quyền lực cao nhất.
Không có được điều ấy, thì sẽ là vô vọng.
Hội An, ngày 20/8/2012
 http://vanhoanghean.vn/nhung-goc-nhin-van-hoa/goc-nhin-van-hoa/4991-nha-van-nguyen-ngoc-can-phan-tu-ve-nguyen-nhan-goc-cua-su-suy-thoai-van-hoa-va-giao-duc-.html

Quan hệ tương hỗ Văn hóa và Giáo dục: Nguồn gốc của sự suy thoái và triển vọng cải biến

Nguyễn Minh Hồng 
 http://vanhoanghean.vn/nhung-goc-nhin-van-hoa/goc-nhin-van-hoa/5174-quan-he-tuong-ho-van-hoa-va-giao-duc-nguon-goc-cua-su-suy-thoai-va-trien-vong-cai-bien.html

Tạp chí Văn hóa Nghệ An số 227(25.8.2012) đăng bài “Cần phản tư về nguyên nhân gốc của sự suy thoái văn hóa và giáo dục" của nhà văn Nguyên Ngọc và TS. Nguyễn Thị Từ Huy. Hai tác giả đã chạm đến những vấn đề cốt lõi của triết lý xây dựng dân tộc, bao gồm cả giáo dục và tổ chức - quản trị xã hội; và gợi mở nhiều vấn đề cần được thảo luận thấu đáo nhằm tìm lời giải ngõ hầu có thể chặn đứng suy thoái xã hội hiện tại, khơi mới nguyên khí dân tộc, đẩy nhanh nhịp độ xây dựng quốc gia, đáp ứng được những thách thức ngày càng khắc nghiệt về an sinh và an ninh quốc gia. Chúng tôi tiếp tục suy nghĩ về chủ đề này trên quan điểm các giá trị văn hóa.
1. Văn hóa là một khái niệm rộng lớn bao trùm mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Nó bao gồm cả các giá trị vật chất và tinh thần, mà trong quan điểm tổ chức quản lý xã hội hiện nay đang có sự hiểu phiến diện. Nói cụ thể hơn, Văn hóa hiện nay mới chỉ được coi là các yếu tố tĩnh như di sản văn hóa vật chất, các hiện tượng văn hóa cụ thể như các truyền thống văn hóa hoặc lễ hội, các hoạt động sáng tạo sản sinh ra các sản phẩm văn học nghệ thuật, v.v...(1). Chính những hiểu biết phiến diện này mà, trong hơn nửa thế kỷ qua, Văn hóa đã được hành chính hóa và bị điều chỉnh chủ quan bởi các quan niệm cụ thể gắn với nhận thức hạn chế của tư duy quản lý. Cũng vì thế mà Văn hóa và Giáo dục đã bị "quản lý" tách biệt bởi các Bộ(2) và hệ thống dọc của chúng. Đây cũng là một trong các nguyên nhân góp phần vào sự suy thoái của cả văn hóa và giáo dục hiện nay.
2. Sứ mệnh của Giáo dục hiện đại là nuôi dưỡng bồi đắp Con người Tự do, có Nhân phẩm, có Tư duy độc lập, phản biện và sáng tạo, và có Năng lực nghề nghiệp. Ở nước ta việc đào tạo con người có Tư duy độc lập hình như chưa bao giờ được nghiêm túc đặt ra, còn việc xây dựng Nhân cách đang bị xem nhẹ hơn nội dung Kiến thức các loại. Thay vì trang bị cho thế hệ trẻ hệ thống giá trị khách quan làm các điểm tựa cho tư duy và hành vi cá nhân, phẩm chất người cao nhất trong nhà trường hiện nay chỉ gói gọn trong một từ "Ngoan" (hạnh kiểm tốt!), nghĩa là bảo sao làm theo vậy, dạy gì tin nấy và lặp lại được những điều đã học càng chính xác càng tốt. Còn giáo dục đạo đức thì được thiết kế như các môn phụ với những bài học mang tính giáo lý hơn là những chuẩn mực được thể chế hóa trong Hiến pháp và các bộ Luật.
3. Văn hóa trong nghĩa rộng lớn hơn bao gồm các giá trị xã hội, mà thường được hiểu là những giá trị tích cực, mặc dù có những giá trị có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của xã hội. Các giá trị đó làm nên Nhân sinh quan, ảnh hưởng đến phương pháp/thao tác tư duy, sự lựa chọn và hành vi cá nhân. Chúng là cái THẦN hay cái não trạng đặc trưng riêng cho từng cá nhân và, nói rộng ra, của từng dân tộc. Như thế Văn hóa là một đối tượng động, tồn tại khách quan, bao gồm các yếu tố được thừa hưởng từ các thế hệ trước và các yếu tố mới phù hợp với trình độ phát triển kinh tế-xã hội đương thời, mà con người có thể tác động (tích cực hay tiêu cực) lên nó chứ khó có thể quản lý được nó.
4. Bên cạnh những biến đổi văn hóa mà con người khó kiểm soát được (thí dụ do sự phát triển của khoa học công nghệ làm thay đổi các tập tính xã hội), chúng ta có thể chủ động tác động lên sự biến đổi văn hóa thông qua các giá trị được nuôi dưỡng trong quá trình giáo dục, bao gồm cả giáo dục gia đình, giáo dục tại nhà trường và trong xã hội. Ví dụ kinh điển là các giá trị Khổng giáo đã làm nên những đặc trưng văn hóa riêng của các xã hội Đông Á.
5. Các yếu tố văn hóa mới cũng có thể xây dựng được thông qua các giá trị được khuyến khích, đề cao hay áp đặt và được duy trì trong các tổ chức. Vì thế ta có văn hóa tổ chức/doanh nghiệp. Rộng lớn hơn là trong xã hội, thông qua Hiến pháp và các Luật thể chế hóa việc tổ chức và vận hành quản trị xã hội mà các giá trị văn hóa mới được thiết lập và phổ biến. Tính bền vững của các giá trị đó tùy thuộc khả năng xã hội bảo tồn tính bất biến của các giá trị cốt lõi được quy định trong Hiến pháp và được thể hiện ở các bộ Luật. Ý thức được các tác động này chúng ta có thể hiểu được quá trình biến đổi văn hóa ở các quốc gia khác nhau, đặc biệt ở các quốc gia có cùng nguồn gốc nhân chủng và lịch sử nhưng có một thời gian được vận hành trong các thể chế kinh tế - chính trị khác nhau, ví dụ điển hình như Nam và Bắc Triều Tiên (tức Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên).
6. Trong trường hợp có sự khác biệt giữa các giá trị mà con người hấp thu được trong quá trình giáo dục (sự giáo hóa) và các giá trị được khuyến khích trong tổ chức hay trong thực tế xã hội thì sẽ nẩy sinh sự tương tác giữa các giá trị này dẫn đến những biến đổi tư tưởng - tâm lý phức tạp, thậm chí bi kịch(3), trong mỗi cá nhân và trong xu hướng tâm lý của tổ chức. Các biến đổi cá nhân và tổ chức tương tác lẫn nhau làm nên các trào lưu của biến đổi văn hóa xã hội.
7. Quá trình tương tác này không chỉ xảy ra trong quá trình sống của mỗi người, làm nên các biến đổi hoặc tốt đẹp hoặc suy thoái của Nhân cách mà cả ngay trong quá trình thiết lập các giá trị cá nhân trong giáo dục. Các giá trị mà các nhà giáo dục muốn gây dựng và nuôi dưỡng trong người học có thể sẽ không đạt kết quả mong muốn khi chúng ngược với những giá trị đang phổ biến trong xã hội. Một thí dụ là bất chấp mọi nỗ lực của nhà trường, các giá trị Nhân ái, Công bằng và ý thức Trách nhiệm khó có thể hình thành phổ biến trong học sinh nếu môi trường xã hội đang phổ biến sự cạnh tranh sinh tồn "mạnh được yếu thua", "khôn sống dại chết" và thói vô trách nhiệm "sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi".
8. Một vấn đề khác là từ cuối thế kỷ 20 đến nay, tiến bộ của khoa học, công nghệ và kỹ thuật đã làm cho môi trường sống của con người biến đổi sâu sắc. Con người không chỉ sống trong môi trường tự nhiênmôi trường xã hội theo quan niệm cổ điển, chúng ta đang sống trong một môi trường thông tin với nghĩa mọi thông tin đang theo các kênh truyền thông khác nhau (báo chí, radio, TV, internet, v.v...) tiếp cận tới từng cá nhân, mọi gia đình. Điều này tác động trực tiếp và phức tạp đến môi trường giáo dục. Một tệ nạn là ở nước ta hiện nay thì ngành Văn hóa, vốn chỉ coi văn hóa đại chúng là các hoạt động mang tính lễ hội và giải trí, cùng các cơ quan truyền thông, đặc biệt là Truyền hình, đang khuếch trương các trào lưu "văn hóa" bề nổi, với sự hiện diện bão hòa của tầng lớp những ca sỹ, nghệ sỹ, người mẫu "chân dài", v.v... mà không phải ai cũng nổi tiếng do những giá trị trí tuệ và đạo đức. Việc chưa nhận thức được vai trò giáo dục của môi trường thông tin còn thể hiện ở thời lượng phát sóng truyền hình dày đặc phim ảnh các loại truyền bá lịch sử và văn hóa Trung Quốc và Hàn Quốc hay những serie phim truyền hình Việt Nam phản ánh lối sống nặng giá trị vật chất của giới "thượng lưu" mới. Tất cả đang tạo nên những trào lưu giá trị sống và nhận thức văn hóa và lịch sử lệch lạc trong lớp trẻ tuổi học đường - những người vốn đang nhận được những giáo dục nghèo nàn về giá trị sống trong nhà trường và có thể cả ở gia đình.
Môi trường thông tin còn cho phép sáng tạo nên những thế giới ảo - với nghĩa là con người ta sống trong đó, tương tác với nó và phát triển những kỹ năng và tình cảm như đang sống trong thế giới thực với các tương tác xã hội thực. Môi trường ảo có những tác dụng tích cực như làm tăng cường giao tiếp xã hội của các thành viên các mạng xã hội hay có thể sử dụng trong giáo dục đào tạo để huấn luyện các kỹ năng và thái độ như các phần mềm mô phỏng các môi trường học tập ảo, v.v... Nhưng môi trường ảo cũng có tác dụng tiêu cực, đặc biệt nếu đấy là các game online/offline có nội dung bạo lực. Hiện tượng nhiều tội ác "máu lạnh" thực hiện bởi những người trẻ có bộ mặt học trò ngây thơ là sự cảnh báo về tính phản giáo dục của các môi trường ảo đầy bạo lực và dễ gây nghiện này.
9. Sự xuống cấp văn hóa - tức là sự xói mòn các giá trị xã hội tốt đẹp - đã kéo theo sự xuống cấp giáo dục; và đến lượt nó, sự xuống cấp giáo dục đẻ ra những cá nhân mang nhiều "khuyết tật xã hội" làm cho xã hội thêm suy thoái. Đặc biệt nếu cơ chế xã hội cho phép những người như thế ngồi vào vị trí lãnh đạo các đơn vị, cái xấu sẽ phát triển cấp số nhân và môi trường văn hóa tại các đơn vị ấy sẽ bị biến đổi tệ hại. Khi cái xu hướng xuống cấp này trở thành phổ biến, sự suy thoái đạo đức xã hội sẽ trở thành trầm trọng và khó có thể đảo ngược nếu không có sự thay đổi thích hợp các thể chế và tổ chức quản trị xã hội để khuyến khích cái Thiện.
10. Văn hóa truyền thống nước ta chịu ảnh hưởng của Khổng giáo với các giá trị như "Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỷ" (Quản Tử), hay "Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín" (Khổng Tử) và nhiều giá trị khác. Các giá trị này, bao gồm cả tốt đẹp lẫn hạn chế, được xây dựng nhằm điều tiết các hành vi cá nhân và quan hệ xã hội với triết lý quyền lực tập trung vào một đấng Quân Vương/Thiên tử- người có quyền định đoạt số phận của những cá nhân khác. Đặc biệt giá trị "Trung" đòi hỏi con người phải trung thành với những con người cụ thể. Chữ Trung mù quáng ấy đã tước đoạt khỏi mọi cá nhân tinh thần Tự do, tư duy Độc lập, Phê phán và Sáng tạo, và thái độ Phản kháng vì nó không thừa nhận trong xã hội có sự Bình đẳng. Nó cho phép người lãnh đạo được Độc quyền chân lý và làm trầm trọng thuộc tính sở hữu của con người, gia cố tính Gia trưởng ở mọi cấp độ gia đình, cộng đồng, xã hội. Nó làm cho người lãnh đạo dễ dấn sâu trong sai lầm và dẫn tới đổ vỡ tổ chức vì các thành viên không dám tự do tư tưởng, ngại phản biện và kẻ lãnh đạo cũng không lắng nghe các phê phán. Mọi tổ chức được xây dựng trên chữ Trung đối với cá nhân hay tổ chức mà thiếu sự đồng thuận trên tinh thần Tự do và Bình đẳng sớm muộn gì cũng suy thoái. Tuy nhiên chủ điểm này sẽ được đề cập sâu hơn trong một dịp khác.
11. Sự xuống cấp đạo đức trong thời kỳ bao cấp có vẻ là nghịch lý vì nhà trường đã luôn nỗ lực giáo dục những giá trị yêu nước, nhân ái, đoàn kết, kỷ luật, khiêm tốn, thật thà, dũng cảm(4), cũng như trong truyền thông luôn có sự đề cao các giá trị về tự do, bình đẳng, công bằng và dân chủ(5). Nghịch lý này có thể hiểu được là do chúng ta đã áp dụng phương thức tổ chức xã hội với chế độ công hữu tư liệu sản xuất, cơ chế tập trung quyền lực kinh tế và chính trị, chủ nghĩa vô thần, vấn đề giai cấp, thành tích hình thức, v.v... không những không phù hợp với các giá trị đạo đức cũ, mà còn không thuận lợi cho việc xây dựng và bồi đắp các giá trị xã hội mới nói trên. Thêm vào đó, việc thiếu cơ chế thăng tiến minh bạch để có thể đề bạt những cá nhân xuất sắt nhất, cũng như việc duy trì quá lâu thể chế tập trung quyền lực vào các cá nhân lãnh đạo trong từng đơn vị và trên toàn xã hội đã cộng hưởng với truyền thống Gia trưởng của xã hội Khổng giáo và làm trầm trọng thêm sự xuống cấp văn hóa, đặc biệt khi những cá nhân lãnh đạo ấy không mang trong mình những giá trị tốt đẹp đề cao Liêm, Sỷ của "Kẻ sỹ" truyền thống.
12. Đổi mới từ 1986 là một bước tiến thuận lợi cho việc gây dựng và vun đắp nhân cách, do 30 năm sau cải cách ruộng đất và cải tạo công thương con người lại được phép sở hữu cá nhân tư liệu sản xuất. Khi con người được độc lập kinh tế, thì họ có điều kiện để phát triển tư duy độc lập và nuôi dưỡng những giá trị cá nhân. Nhưng chúng ta đổi mới quan hệ kinh tế, tức hạ tầng cơ sở, mà đã không có các đổi mới cần thiết trong thượng tầng kiến trúc. Việc đổi mới "một chân" đã cho phép nền kinh tế thị trường phát triển hoang dã mà không có sự kiểm soát của xã hội. Việc con người được tự do kinh tế mà thiếu tự do chính trị đã làm cho tính chộp giật, sự thực dụng đang trở thành trào lưu phổ biến trong xã hội hiện tại. Vì giá trị tiền bạc/lợi ích cá nhân một mặt khơi dậy sự năng động, tính sáng tạo cá nhân, mặt khác khuyến khích lòng tham và sự cạnh tranh không lành mạnh vốn đã được nuôi dưỡng bởi cơ chế xin-cho trong nền kinh tế tập trung bao cấp. Động lực ấy cộng hưởng với sự thiếu hiệu quả của luật pháp và sự thiếu minh bạch của cơ chế đề bạt lãnh đạo là nguồn gốc chủ yếu của sự xuống cấp đạo đức xã hội. Sự bắt bệnh phiến diện xã hội đã dẫn các nhà giáo dục đến quyết định sử dụng lại khẩu hiệu Khổng giáo "Tiên học lễ, hậu học văn" với mong muốn giáo dục đạo đức ở nhà trường sẽ giúp con người biết tự kiểm soát bản thân, góp phần vực lại nền văn hóa đang suy thoái. Cùng lúc cũng có các nỗ lực trong đảng cầm quyền học tập tấm gương đạo đức cố Chủ tịch Hồ Chí Minh. Song kết quả hơn 10 năm qua cho thấy hiệu quả giáo dục không thấm vào đâu so với tốc độ lan tràn của lối sống thực dụng và của sự suy đồi đạo đức.
13. Để chặn đứng suy thoái văn hóa, ta cần nhận thức rõ hành vi con người chỉ có thể kiểm soát được và môi trường cạnh tranh trong xã hội chỉ có thể điều tiết để trở nên công bằng và minh bạch được nếu chúng ta xây dựng được thể chế Pháp quyền - tức là sự Thượng tôn pháp luật của các cá nhân Tự do và Bình đẳng trước pháp luật. Dân chủ hóa xã hội cho phép kiểm soát hành vi các cá nhân lãnh đạo bằng "trăm tay nghìn mắt" của nhân dân. Sự kiện Đoàn Văn Vươn (Tiên Lãng, Hải Phòng) đầu năm 2012 là một minh chứng của vai trò tích cực của Dân chủ trong đời sống xã hội. Với sự cho phép báo chí tự do điều tra và tự do xuất bản các ý kiến phản biện đa chiều của nhân dân, chân tướng của vụ việc Tiên Lãng đã sớm được làm rõ và Thủ tướng Chính phủ đã kết luận về sai trái của chính quyền địa phương Tiên Lãng và thành phố Hải Phòng.
14. Đổi mới văn hóa và giáo dục, vì thế, phải bắt đầu bằng việc thiết lập các giá trị phổ quát là Tự do, Bình đẳng của các cá nhân trước pháp luật và Dân chủ trong tổ chức và quản trị xã hội và trong toàn bộ hệ thống giáo dục. Việc kế thừa các giá trị truyền thống cần phải được xem xét một cách có phê phán và nội hàm của chúng phải được định nghĩa phù hợp với các giá trị phổ quát nói trên. Cụ thể là trong các giá trị truyền thống có những giá trị có tính khách quan, hiển nhiên, như Liêm, Sỷ, Nhân, Nghĩa, Trí, Tín. Đây là những giá trị có thể kế thừa. Chữ Lễ mới cần được hiểu trong tinh thần của Tự do và Bình đẳng, tức là sự tôn trọng Luật pháp trong xã hội và sự tương kính, tức tự trọng và tôn trọng người khác, trong ứng xử cá nhân. Chữ Trung như phân tích ở trên cần được sử dụng hết sức thận trọng. Đối tượng con người có thể Trung cần phải là các giá trị vĩnh cửu như Sự thật (tức là sự Trung thực, hay tính Thật thà) hay Lợi ích dân tộc (Trung với nước hay Yêu nước), v.v...
15. Để những giá trị tốt đẹp được giáo hóa ấy trở thành Văn hóa trong mỗi đơn vị và nhờ thế phổ quát toàn xã hội, việc quan trọng là những người được giáo dục tốt nhất - tức là những "bộ óc mạnh" hay "kẻ mạnh" trong ngôn ngữ của Nietzsche(6) - phải được cho cơ hội trở thành các "tông đồ" truyền bá các giá trị/cái Văn ấy ra cộng đồng và xã hội. Tức là họ cần được trở thành các nhà giáo dục và các nhà quản lý các cấp trong xã hội(7). Tất nhiên ngoài những giá trị làm người ấy, những nhà giáo dục và quản lý phải có tư duy độc lập - phản biện và sáng tạo và những năng lực nghề nghiệp đáp ứng được đòi hỏi của vai trò của họ trong tổ chức/xã hội.
16. Mặt khác, một con người dù được đào tạo tốt đến mấy cũng không thể hoàn hảo và nếu không tự tu dưỡng hoặc không bị giám sát thì cũng có thể bị tha hóa. Vì thế cơ chế xã hội một mặt phải cho lãnh đạo quyền được chịu trách nhiệm cá nhân trước cộng đồng, mặt khác phải kiểm soát được việc quyền lực không bị lạm dụng. Điều ấy đòi hỏi người lãnh đạo phải chịu trách nhiệm giải trình minh bạch trước cộng đồng. Vì thế xây dựng thể chế Dân chủ là cách duy nhất cho phép chúng ta giám sát hiệu quả những người được nhân dân giao phó quyền lực lãnh đạo.
17. Cơ chế để đảm bảo sự thăng tiến của những "kẻ mạnh" đã được giáo dục tốt nhất chính là sự Bình đẳng cá nhân trước mọi cơ hội và sự Minh bạch trong tổ chức xã hội tức là nền Dân chủ. Điều ấy cũng có nghĩa xã hội phải được xây dựng trên cơ sở Thượng tôn pháp luật của các cá nhân Tự do và Bình đẳng - chính là đòi hỏi của nền Kinh tế thị trường đã nói ở trên.
18. Như vậy các phân tích tác động tương hỗ của văn hóa và giáo dục cho thấy để chặn đứng suy thoái văn hóa và giáo dục và xây dựng một Nền văn hóa và giáo dục Nhân bản và Hiện đại, việc đổi mới một mình Giáo dục là chưa đủ. Đổi mới phải được thực hiện song song cả trong Giáo dục và trong Tổ chức - Quản trị xã hội. Cụ thể là chúng ta cần phải hiện thực hóa các giá trị Tự do và Bình đẳng cá nhân và Công bằng và Dân chủ xã hội trong tinh thần của Hiến pháp đang được sửa đổi, trong các bộ Luật, trong tổ chức và quản trị xã hội và trong giáo dục và đào tạo các cấp. Trong môi trường xã hội mới như vậy, mục tiêu của nền giáo dục mới đào tạo nên những con người tự do, bình đẳng, có tư duy độc lập, năng lực nghề nghiệp và mang những giá trị nhân bản tốt đẹp nhất của truyền thống dân tộc ta nhất định sẽ thực hiện được.
 
 
-------------------
         (*) : Tiến sĩ Toán-lý, ĐH Tư thục Công nghệ và Quản lý Hữu nghị
(1) Xem Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch:  http://www.cinet.gov.vn/Content.aspx?sitepageid=34
(2) Văn hóa, Giáo dục và Khoa học, Công nghệ có mối tương quan chặt chẽ. Nước Nhật chỉ có một Bộ cho tất cả: Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ (viết tắt MEXT). Ở Việt Nam, Văn hóa được quản lý bởi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Giáo dục được quản lý bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo, còn Khoa học và công nghệ có Bộ Khoa học và Công nghệ.
(3) Đây là mảnh đất của văn học và nghệ thuật và cả khoa học xã hội. Cái chết đau lòng của nhà báo Trung quốc Xu Huaiqian (Từ Hoài Khiêm) cho thấy xung đột nội tâm đã trở thành bi kịch khi con người không chấp nhận được thực tế đảo ngược với các giá trị được cá nhân nuôi dưỡng và hấp thụ từ truyền thống và giáo dục. Trong sự đơn độc tuyệt vọng, hôm 22/8/2012 ông đã phải lấy cái chết để phản kháng xã hội. Ông thổ lộ: “Nỗi đau của tôi là dám nghĩ, nhưng không dám nói ra. Nếu tôi dám nói ra, tôi lại không dám viết ra. Và nếu tôi dám viết ra thì không có nơi nào để xuất bản. Tôi ngưỡng mộ những nhà báo tự do, nhưng tôi không thể rời bỏ hệ thống vì nếu tôi làm thế, gia đình tôi sẽ chịu khổ", và: "Chết là một từ nặng nề, nhưng ở Trung Quốc, trong nhiều trường hợp, nếu không có cái chết thì xã hội sẽ không chịu ngồi xuống và lắng nghe, nên vấn đề sẽ không được giải quyết”. (Gia Tùng, "Xôn xao vụ tổng biên tập tự tử",Tiền Phong Online 25/8/2012, http://www.tienphong.vn/the-gioi/589495/Xon-xao-vu-tong-bien-tap-tu-tu-tpp.html)
(4) “5 điều Bác dạy” luôn được nêu cao trong nhà trường trước đây.
(5) Các quyền Tự do, Bình đẳng, và quyền được mưu cầu hạnh phúc đã được nêu trong Tuyên ngôn Độc lập. Các khẩu hiệu "Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" hay "Xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" luôn được nhấn mạnh.
(6) "Kẻ mạnh hiểu theo nghĩa của Nietzsche: là kẻ có khả năng sáng tạo, có các giá trị để dâng hiến, chứ không phải là kẻ dẫm đạp lên người khác, buộc người khác khuất phục quyền uy của mình". Nguyễn Thị Từ Huy, "Thầy-Trò. Máu của trò quý hơn máu ta nhiều", http://cafehocthuat.blogspot.com/2011/11/bai-viet-cua-ts-nguyen-thi-tu-huy-ve.html; http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&News=4598&CategoryID=6
(7) Điều này cũng đã được Quản Tử chỉ ra- “Nhất thu bách hoạch giả, nhân dã" (Trồng một, gặt trăm, ấy là người) và các triều đại phong kiến Việt Nam đã thực hiện từ xưa như chúng ta đã biết: Muốn làm quan phải giáo dục tử tế! Nay ta hay nói "học để làm quan" với ý phê phán mà không thấy được tính khoa học trong việc chỉ dùng những người đã được đào tạo tử tế của cổ nhân!

 

Ði Tìm Một Ðịnh Nghĩa Về Tôn Giáo

 Stephanô Nguyễn Mạnh Khả 
http://vanhoanghean.vn/nhung-goc-nhin-van-hoa/goc-nhin-van-hoa/5137-ei-tim-mot-einh-nghia-ve-ton-giao.html
Ðây thực ra là một vấn đề không hề đơn giản và dễ dàng như chúng ta thường nghĩ. Có dễ dàng chăng cho chính riêng tôi là một định nghĩa về Kitô giáo, hoặc đơn giản hơn, là một định nghĩa về đạo Công Giáo. Công việc này có lẽ với tôi không khó cho bằng một định nghĩa chung về tôn giáo. Lý do thật đơn giản là vì bản thân tôi được sinh ra và lớn lên trong một gia đình Công Giáo. Sự khó khăn trong việc đi tìm một định nghĩa chung cho hai chữ Tôn Giáo này có lẽ cũng đúng cho trường hợp của một tín hữu Phật Giáo hoặc Cao Ðài, Hòa Hảo, bởi lẽ cái nhìn của họ về tôn giáo cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi đức tin họ đã được tiếp nhận học hỏi.
Sự kiện nhãn quan của mỗi người luôn luôn bị uốn nắn, ảnh hưởng bởi tất cả những gì họ lãnh nhận từ bên ngoài cho ta thấy rõ hai cấu tố tạo thành cuộc sống và cấu trúc suy nghĩ, hành động của con người. Là một con người, trước hết nửa phần của con người của tôi được cấu thành như một sản phẩm phát triển thuộc về sinh vật hay thiên nhiên. Nửa phần kia được tạo nên hay hun đúc bởi những yếu tố đến từ bên ngoài, đó là môi trường giáo dục, huấn luyện, hay những ảnh hưởng văn hóa. Vì thế để có thể tìm một định nghĩa chung cho hai chữ tôn giáo, tôi không thể không nhìn nhận rằng định nghĩa tôi có thể tìm ra được sẽ phản ảnh phần nào bởi chính động lực tự nhiên tiềm tàng sẵn có trong con người tôi hoặc bởi chính những tư tưởng, hoạt động, hay cái nhìn tôi đã thu nhận được trong quá trình học hỏi, hoặc có thể bởI cả hai yếu tố trên. Bởi vậy, nỗ lực tìm một định nghĩa tổng quát về tôn giáo trong bài viết này sẽ là một cuộc khảo sát về bản chất của tôn giáo như là một động lực thúc đẩy tự nhiên sẵn có trong thâm tâm mỗi con người, hay tôn giáo như một yếu tố con người tiếp thu từ bên ngoài do nhu cầu cá nhân hay tập thể thúc đẩy.
Như một yếu tố phát xuất từ bên trong tâm hồn con người mà chúng ta có thể gọi là sự kiện tiền nghiệm (1), chúng ta có thể tự hỏi sự hiện diện của tôn giáo có thể được coi là một sự kiện gắn liền với bản chất của con người và tự phát dưới hình thái của một niềm tin thiêng liêng, những nghi lễ, những quy tắc luân lý, và cả dưới hình thức hội họp chung của cộng đoàn không? Và tôn giáo có phải là một cảm tính, một trực nghiệm, một hình ảnh, hay một ý tưởng phát xuất từ trong tâm tính tự nhiên của con người hay không? Ðể câu trả lời có thể đi sát với thực tại của vấn đề theo nhận định chung của mọi người, chúng ta phải nhận định rằng tôn giáo bắt nguồn từ bản chất của con người như môt động lực vô định hình luôn thúc đẩy con người đi tìm một sự giải thích hay một ý nghĩa cho sự hiện hữu của mình giữa vũ trụ vạn vật và trong tương quan với đồng loại. Cùng hiện diện với động lực này như mặt thứ hai của một đồng tiền là cảm nhận yếu đuối bất lực phải phụ thuộc hay nương tựa vào một thực tại siêu việt, một thực tại nằm ngoài tầm với của con người nhưng lại có một ảnh hưởng bao quát và sâu xa trên sự hiện hữu của con người.
Thế nhưng có phải tất cả chúng ta đều đồng ý với nhau rằng tất cả mỗi người trong chúng ta đều cảm nhận được sự hiện diện của động lực này và nội dung của cảm nhận của mỗi chúng ta đều giống như nhau. Ðể trả lời chúng ta phải khởi đi từ sự kiện con người là hữu thể có nhận thức và tự nhận thức được chính mình. Với ý thức hoặc hiểu biết, con người có thể nhìn ra được điều gì đang xảy ra chung quanh mình, cho mình, cũng như có thể tự nhìn ra mình là ai, là gì, và mình phải làm gì trong tương quan với vạn vật và đồng loại. Những tác động đó có thể được coi như thuần túy nhắm đến mục đích sinh tồn và phát triển: biết người, biết ta, biết vạn vật là coi như đã biết làm thế nào để đạt được phúc lợi cho mình. Chính trong quá trình tìm hiểu thế giới bên trong và thế giới bên ngoài như vậy mà tâm thức và tâm thức phản tỉnh của con người đã tự nghiệm ra và cố gắng tìm câu trả lời cũng như một sự giải thích cho sự hiện hữu của mình, nguồn gốc, định mệnh của mình, và cho sự việc phải đối đầu với nghịch cảnh của cuộc đời như đau khổ, bệnh tật, chết chóc, sự dữ, bất công. Và chỉ khi nào tìm ra được một ý nghĩa cho cuộc đời, con người mới thực sự can đảm dấn bước trong cuộc hành trình của cuộc đời với chân giá trị tự đặt định cho mình. Như vậy, con người có thể được gọi là ''sinh vật biết ban phát ý nghĩạ''(2)
Tuy nhiên, tới đây chúng ta có thể đặt thêm một câu hỏi là cảm nghiệm về một sự liên hệ với một thực tại siêu việt có nhất thiết phải là một thành phần nội tại gắn liền với động lực đi tìm ý nghĩa cho cuộc sống hay không. Ở đây một thực tại siêu việt mang ý nghĩa của một sự vật, sự việc, một thực thể nào đó vượt trên thế giới giác quan thông thường của con người, hay một mầu nhiệm siêu nhiên, một đấng thánh thiêng nào đó.(3) Câu hỏi trên có thể được triển khai thêm với câu khẳng định rằng con người là loài có ý thức tôn giáọ Như vậy ta có thể nói rằng con người mang sẵn trong mình ''một khao khát nội tạí' hay ''một khả năng bẩm sinh'' hướng về cảm nghiệm tôn giáo hay không?(4)
Thực ra phương cách giải quyết vấn đề theo lối tiền nghiệm khởi đi từ bản chất và nguồn gốc của sự cảm nghiệm tôn giáo của con người thường đưa đến nhiều tranh cãi nếu cảm nhận đó được coi như vốn sẵn có từ trong thâm tâm và hiện diện như một cảm tính hay một động lực thúc đẩy con người đi tìm kiếm và thiết lập liên hệ với một đấng siêu việt hoặc một sự thánh thiêng nào đó. Dưới cái nhìn của Freud, nhu cầu đi tìm ý nghĩa cho cuộc đời nơi con người có thể là một nhu cầu căn cơ có thật và tiềm tàng nơi bản chất của con người. Nhưng hình ảnh hoặc ý niệm của một đấng siêu nhiên hoặc của một vị thần thánh vẫn chỉ là một lựa chọn hay một ảo tưởng được tạo ra như sản phẩm của những suy nghĩ mang tính chất ước ao mơ mộng của con nít. Ðối với Marx, tôn giáo hiểu như là một sự cổ võ cho sự lệ thuộc hoặc sự hoàn toàn hướng về đời sau, tác động như một thứ thuốc phiện ru ngủ sự phấn đấu của con người. Bị đặt trong hoàn cảnh bất lực, con người thường tự tạo ra cho chính mình những ảo ảnh thiêng liêng về một đấng thần thiêng và rồi chạy đến cầu khẩn xin trợ giúp với tác phẩm tưởng tượng đó của mình. Ngoài ra, có thể sẽ có không ít người không hề cảm nhận thấy một nhu cầu nội tại nào cần phải có một liên hệ với một đấng thiêng liêng nào cả, tuy họ vẫn cảm nhận thấy có một động lực thúc đẩy trong con người của họ để đi tìm ý nghĩa cho cuộc sống nếu họ không muốn thấy mình phải đương đầu với sự đe dọa bị bơ vơ lạc lõng trong cuộc đời. Ðối với những người này, tiền bạc, thú vui, danh vọng rất dễ dàng biến thành những ngọn nguồn trao ban ý nghĩa hoặc đặt định mục đích cho cuộc sống của họ.
Những khó khăn mà chúng ta gặp phải trong nỗ lực đi tìm một lời giải thích cho sự cảm nhận tôn giáo tiền nghiệm về một nhu cầu liên hệ với đấng thiêng liêng đòi hỏi chúng ta phải tìm đến một phương cách khác. Phương cách này không gì khác hơn là sự giải quyết vấn đề dựa vào những cảm nhận hay kinh nghiệm phụ thuộc có nghĩa là những cảm nhận hay kinh nghiệm đến từ những cảm nhận căn bản hay từ những nhu cầu căn cơ nhất của con người. Theo hướng giải quyết vấn đề như vậy, chúng ta có thể khởi đi từ những kinh nghiệm về những hiện tượng tôn giáo xảy ra trong cuộc sống thực tế của chính chúng tạ Ðể trả lời cho sự chối bỏ sự hiện diện của sự cảm nhận tôn giáo tại bản chất căn cơ của con người, môt sự chối bỏ được nghiên cứu và công bố như những định luật khoa học của chủ thuyết vô thần, chủ thuyết Marxism, chủ thuyết của Freud, chủ thuyết duy khoa học, hay chủ thuyết duy vật, chúng ta có thể quả quyết rằng sự tồn tại lâu dài và sự thích ứng mau lẹ và hợp lẽ của tôn giáo đối với những biến đổi của xã hội và văn hoá đã chứng tỏ một cách mạnh mẽ là cảm nhận tôn giáo phát xuất tự căn nguyên của thân phận con ngườị(5) Cũng vậy, nếu tôn giáo được coi là một trong những nỗ lực của con ngưới nhắm đến việc tìm cho được một ý nghĩa cho cuộc sống, thì chắc chắn tôn giáo phải là nỗ lực kiên cường, bền bỉ, và thỏa đáng nhất khi so sánh với triết học và khoa học.(6)
Với những suy luận rút ra từ những khó khăn nêu trên của hai giải pháp tiền nghiệm và suy luận từ kinh nghiệm, vấn đề nêu ra cho một định nghĩa tổng quát về tôn giáo, như chúng ta thấy, vẫn là một chuyện nan giải. Lý do thứ nhất của sự khó khăn này là sự vô định hình của ước muốn căn nguyên của con người trong việc đi tìm một ý nghĩa cho cuộc sống. Chính với tính vô định hình này mà ước muốn mong tìm ý nghĩa sống đã có thể được thể hiện, tức là được mặc cho một hình thái, một nội dung hoàn toàn tùy thuộc vào chủ thể của ước muốn đó. Nói cách khác, đây là vấn đề của một ước muốn, một cảm nhận được theo đuổi bằng nhiều cách khác biệt và do đó sẽ được cắt nghĩa đôi khi tương phản lẫn nhau. Như đã trình bày ở trên, tôn giáo cũng chỉ được coi là một trong những nỗ lực hoặc câu trả lời dù là câu trả lời thỏa đáng cho ước vọng nàỵ Và vì thế ước muốn đi tìm ý nghĩa cho cuộc sống vẫn không được coi là yếu tố duy nhất thuộc về tôn giáo, có nghĩa là không phải chỉ nơi tôn giáo người ta mới thấy có niềm ước vọng nàỵ Lý do khó khăn thứ hai hệ tại nơi sự bất đồng ý kiến về bản chất nội tại của hướng vọng của con người đối với một đấng siêu việt hay một thực tại thần thiêng. Tuy nhiên chúng ta vẫn không thể đi ra ngoài khuôn khổ của hai ước vọng căn bản đó của con người trong việc đi tìm một định nghĩa tổng quát cho vấn đề tôn giáo. Và nếu chúng ta muốn giảm thiểu tối đa những trở ngại khó khăn căn bản, phương cách giải quyết của chúng ta sẽ phải là những suy luận từ kinh nghiệm đến từ những sự thể hiện phụ thuộc của những cảm nhận căn nguyên. Từ tiền đề trên, chúng ta có thể đề ra hai đường lối hay hai cách thức để định nghĩa hai chữ tôn giáo.
Trọng tâm thứ nhất liên quan đến nhu cầu căn bản của con người hướng về ý nghĩa của cuộc sống và một lời giải thích cho những vấn nạn của đời người. Chúng ta có thể gọi cách thức này là cách thức định nghĩa dựa theo những chức năng của tôn giáọ Ðặt qua một bên yếu tố căn bản nhất của tôn giáo, yếu tố được coi như căn nguyên hình thành của tôn giáo, đó là sự liên quan đến đấng siêu việt hay một thực tại siêu nhiên, có lẽ chúng ta sẽ chú ý ngay đến những nhiệm vụ của tôn giáo trong việc đáp ứng với nhu cầu tìm lời giải thích cho sự hiện hữu của con người; nói cách khác, chúng ta đang đề cập đến cứu cánh của tôn giáo để từ đó có thể đi đến một định nghĩa xác hợp cho vấn đề tôn giáo.
Theo ý nghĩa trên, tôn giáo được coi như một phương tiện hay một môi trường mà nhờ đó con người có thể tìm ra được ''một hệ thống biểu trưng'' để xử dụng như một sơ đồ hoạch định cho việc tìm hiểu về thế giới vũ trụ.(7) Tôn giáo, như Paul Tillich đã định nghĩa, là ''sự quan tâm chủ yếu cuối cùng theo nghĩa rộng nhất và cơ bản nhất của từ ngữ.''(8) Như vậy, với một cái nhìn tinh tế và bao quát nhất về tôn giáo theo quan niệm tôn giáo là một câu trả lời cho công cuộc truy tầm ý nghĩa sống của con người, tôn giáo được coi là một hệ thống chuyên chở ý nghĩa nhằm đáp ứng mọi nhu cầu tri thức, tình cảm, và xã hội của con người. Như Roger Schmidt đã vạch ra, nhiệm vụ tri thức của tôn giáo là cung cấp cho con người một lời giải thích về ''căn nguyên và sự vận hành của vạn vật.''(9) Dưới cái nhìn mang tính cách vũ trụ học và thần học của tôn giáo, con người hy vọng có thể tìm ra được vị thế hay chỗ đứng của mình trong vũ trụ cùng với định mệnh của mình trong cuộc đờị Mang hình thái của những tín lý, giáo lý, hay niềm tin, tôn giáo là câu trả lời cho trí óc tìm tòi học hỏi, khao khát hiểu biết của con người về chính mình, về người khác, và về vũ trụ. Thêm vào những niềm tin hay những tri thức này, những sinh hoạt nghi lễ, phụng vụ và những cuộc tạo dựng hay nhóm họp cộng đồng mang lại sự trợ giúp cho con người trong việc bày tỏ, phát biểu, diễn tả những cảm xúc của mình trong việc đối đầu với những vấn nạn của của cuộc đời như đau khổ, lo lắng, sợ hãi, buồn phiền, hay vui mừng.(10) Cũng vậy, khung cảnh sinh hoạt mang tính cách xã hội của tôn giáo đã góp phần không ít vào sự ổn định và điều hòa xã hội nhờ việc đem đến cho cá nhân con người một ý nghĩa sâu xa của sư tương giao với người khác, một căn tính mà cá nhân con người cảm thấy có nhiều giá trị, và một nền luân lý giúp con người sống trổi vượt hơn vạn vật vũ trụ. Thật vậy, trong khung cảnh sinh hoạt hợp quần này, cộng đồng tôn giáo hoạt động như một nguồn trợ lực và khuyến khích thúc đẩy đối với mỗi cá nhân bằng những hoạt động như chia sẻ cùng một niềm tin hay thi hành cùng một nghi lễ tôn giáo.(11)
Tuy nhiên, sự khó khăn tồn đọng trong định nghĩa dựa vào chức năng tôn giáo, như đã nói ở những phần trên, phát sinh từ tính vô định hình hay tính bao quát của tôn giáo. Nói cách khác, định nghĩa theo phương pháp dựa trên chức năng của tôn giáo đã vô hình trung bao gồm quá nhiều hiện tượng và tình huống sinh hoạt xã hội của con người đến mức trở thành quá rộng rãi và mơ hồ. Mức độ bao quát này cho phép chúng ta có thể nói rằng dựa trên chức năng nhằm tìm ra ý nghĩa cuộc sống, bất kỳ nỗ lực hay công trình nào của con người cũng đều có thể dễ dàng được xếp chung vào cùng một phạm trù với tôn giáo. Triết học chắc chắn cũng sẽ được coi như là một cố gắng của con người nhắm tới mục đích cắt nghĩa ''căn nguyên và sự vận hành của vạn vật.'' Khoa học sẽ là một quyết tâm khác với cùng một trọng tâm là mang lại ý nghĩa cho tất cả mọi biến cố xảy ra chung quanh chúng ta và ngay trong chính con người chúng ta. Như một ví dụ, chủ nghĩa Marxism, một chủ thuyết vô thần, đã có thể lôi cuốn được rất nhiều người bởi việc đã đem lại cho họ một viễn ảnh của nguồn gốc và định mệnh con người cũng như đã tạo cho họ một cơ hội, một môi trường giúp họ nói lên được những uất ức đối kháng với thực tại chung quanh, một cách thức để hành xử, và hơn nữa đã tạo dựng cho họ một sự kết đoàn cần thiết cho nhu cầu quan trọng của cá nhân con ngườI, đó là nhu cầu cần có một căn tính mang nhiều ý nghĩa và một niềm tin vào chân lý tự tìm ra và theo đuổi. Suy luận tới đây, chúng ta có thể nhận ra được sự liên hệ mật thiết giữa yếu tố kế tiếp, là yếu tố của sự liên quan của con người với đấng siêu việt, và yếu tố của động lực đi tìm ý nghĩa sống. Yếu tố thứ hai kể trên là điều kiện ắt có, và yếu tố thứ nhất là điều kiện đủ cho một định nghĩa tổng quát về tôn giáo.
Thực vậy, chúng ta phải tự hỏi rằng làm cách nào chúng ta có thể phân biệt được sự khác biệt giữa nỗ lực mang tính cách tôn giáo và nỗ lực mang những tính cách không tôn giáo trong vấn nạn của sự hiện hữu của con người. Bởi lẽ chủ thuyết Marxism, là một ý thức hệ trần tục hay một vũ trụ quan vô thần, vẫn có thể dễ dàng hoạt động với tư cách một tôn giáo. Do đó chúng ta sẽ thấy yếu tố của sự liên quan đến đấng siêu việt đóng một vai trò thiết yếu cho việc phân biệt nói trên. Ðặt qua một bên điểm bất đồng còn tồn tại về thực chất của cảm nhận căn nguyên của con người hướng về đấng siêu việt, chúng ta có thể đi đến một định nghĩa rõ nét và chủ yếu hơn về tôn giáo, một định nghĩa làm nổi bật nét đặc thù của tôn giáo. Nét đặc thù đó không gì khác hơn là chiều kích vươn cao của con người theo hướng thẳng đứng trong liên quan giữa con người và đấng siêu việt như vẫn được đề cập tới ở các phần trên. Chiều kích này được diễn tả đầy đủ trong định nghĩa của Luther về tôn giáo: tôn giáo là''một mầu nhiệm vĩ đại và cuốn hút'' đối với con người (mysterium tremendum et fascinans).(12) Hoặc như Edward B. Tylor đã nhấn mạnh, trung tâm điểm của tôn giáo nằm ở ''niềm tin vào những Hữu Thể Thiêng Liêng.'' (13)
Thế nhưng vấn đề được đặt ra đối với cách định nghĩa trên là quan điểm nhị nguyên tiềm tàng trong việc đặt định thực tại ra làm hai, nhân bản và thần thiêng.(14) Quan điểm này còn dẫn tới sự bế tắc của việc áp dụng chung định nghĩa trên cho cả hai truyền thống hữu thần và phi thần (theistic and non-theistic).(15) Khó khăn thứ nhất mà chúng ta có thể kiểm nhận được là khó khăn có liên quan đến việc lãnh hội của một người không cùng một niềm tin hoặc không theo một niềm tin tôn giáo nàọ Ðối với người trong cuộc, tức ngưới mang niềm tin tôn giáo, thì sự phân đôi cuộc sống con người hoặc việc đặt để con người vào lãnh vực trần thế và đấng thiêng liêng vào lãnh vực siêu nhiên có thể hiểu được và được chấp nhận dễ dàng nhờ niềm tin vào sức mạnh biến đổi của đấng siêu việt hoặc nhờ chức năng hòa nhập hai thế giới đó của tôn giáọ Nhưng đối với người ngoài cuộc hoặc không theo niềm tin tôn giáo, thì vấn đề trở nên khó khăn hơn, bởi họ không có cái nhìn thấm nhiễm niềm tin tôn giáo cũng không cảm nhận được nhịp cầu thông giao cá nhân giữa con người và đấng siêu nhiên. Thực thế, cảm nhận tôn giáo tác động như một lăng kính qua đó một cá nhân sẽ luôn nhìn cuộc đời dưới nhãn quan của sự tương quan với đấng thánh thiêng. Do đó, mọi sự, mọi việc sẽ không thể xuất hiện tương tự dưới cùng một hình thức và mang cùng một ý nghĩa với người có một niềm tin tôn giáo và người không theo niềm tin đó. Vấn đề nhị nguyên nếu có khúc mắc hay chăng là đối với người không mang niềm tin tôn giáo, tuy vậy sự khúc mắc này lại đưa chúng ta đến khó khăn là sẽ không thể đưa ra được một định nghĩa chung mà tất cả mọi người có thể dễ dàng chấp nhận và dễ dàng lãnh hội.
Thứ đến đối với sự thiếu sót của định nghĩa dựa trên yếu tố của sự liên quan đến đấng siêu việt trong việc loại bỏ truyền thống phi thần như không đủ tiêu chuẩn của một tôn giáo, tỷ dụ như Khổng Giáo hay Phật Giáo, chúng ta cần phải xác định lại ý nghĩa bao quát của từ ngữ đấng siêu việt hay thực tại thần linh mà chúng ta đã xử dụng. Chúng ta thường xử dụng từ ngữ này để chỉ không những một hay nhiều vị thần thánh có bản vị mà còn để chỉ một thực tại hay một cảnh vực tuy khác nhưng vẫn có liên hệ đến thực tại chúng ta đang sống. Ý nghĩa bao quát hơn này giúp chúng ta có thể phân định Khổng Giáo và Phật Giáo vào cùng một định nghĩa của tôn giáo hiểu như là một con đường, một phương cách để nối liền tương quan giữa thực tại giác quan của con người và thực tại vượt trên giác quan, mặc dù hai truyền thống tôn giáo này đều không hề đề cập đến sự lệ thuộc hoàn toàn của con người vào một hoặc nhiều thực thể thần linh.
Như một vấn nạn tạo ra bởi yếu tố đặc thù là sự liên quan hay không liên quan đến thần linh, cách thức định nghĩa trên đã cho thấy những tính cách hạn hẹp, thiếu sót, siêu thực, và bị giới hạn trong tính cục bộ của lịch sử và văn hóa của một định nghĩa chủ yếu dựa trên yếu tố của sự tương giao của con người với thần linh. Vì thế, chúng ta cần phải xử dụng và phối hợp cả hai cách thức định nghĩa dựa trên chức năng và dựa trên yếu tố của việc liên quan đến thần linh trong nỗ lực đạt đến một quan điểm chung về tôn giáo, một quan điểm có thể áp dụng rộng rãi có giá trị chung cho tất cả mọi sinh hoạt có hình thức tôn giáo và do đó sẽ giúp chúng ta thực hiện dễ dàng công việc liệt kê một cách đầy đủ hơn những thành phần cấu tạo của tôn giáo.
Thực vậy, những suy luận nêu trên về một định nghĩa hai mặt về vấn đề tôn giáo đã giúp chúng ta nhận định được ba chiều kích của sự hiện hữu của con người dưới ánh sáng của sự cảm nhận của con người đối với thực thể siêu việt: chiều thẳng, chiều ngang hướng ngoại, và chiều ngang hướng nội. Chiều kích thứ nhất mà chúng ta đề cập đến là tương quan giữa con người và đấng siêu việt. Ðể có thể đi vào chiều kích này, con người cần đến sự hoán cải, hoặc mạc khải, hoặc đức tin bằng những phương cách ngoại tại mang hình thái của tín điều, niềm tin, giáo thuyết, hay thần thoại. Nghi lễ phụng tự hay những hoạt động mang tính cách biểu trưng khác cũng góp phần vào việc thiết lập tương quan chiều thẳng này. Những tiêu chuẩn luân lý thì nhắm đến mục tiêu thanh tẩy hoặc công chính hóa cuộc sống của mỗi cá nhân.
Chiều kích thứ hai của tôn giáo là tương quan phản tỉnh hàng ngang của cá nhân đối với chính con người của mình. Cũng thế, dưới ảnh hưởng của tương quan thiết lập giữa con người và thần linh, cá nhân con người có thể đưa ra xử dụng tất cả những gì lãnh hội được từ những cảm nghiệm hay những dữ kiện liên quan tới thần thoại, đức tin, tín lý, đạo đức, hay phụng tự để tạo sự sinh động hay sự tái sinh cho chính cuộc đời của mình, hay để gợi lên cũng như làm hài hòa tất cả những cảm tính hay những xúc cảm mà cá nhân con người cần đến hay gặp phải trong cuộc sống. Chiều kích thứ ba hệ tại nơi cộng đoàn hay tập thể, là môi trường mà trong đó mỗi cá nhân con người có thể thực hiện mối liên kết với người khác trong tập thể trên nền tảng của các tiêu chuẩn luân lý đã được đề ra trong tôn giáo của tập thể đó. Nhờ vào sự thiết lập mối giây liên kết có tính cách tập thể và rập theo một tiêu luân lý này mà mỗi cá nhân sẽ có thể xác lập được căn tính và vị trí của mình, và sự xác lập này sẽ giúp cho mỗi cá nhân cảm thấy dễ dàng hơn khi tiến bước trong hành trình của cuộc đời cùng với tập thể trong sự tương trợ và tương kính.
Dựa vào những lý luận và quan sát trên, tôi xin mượn định nghĩa về tôn giáo được đề cập đến trong cuốn sách nhan đề Sự Truy Tầm Thánh Thiêng -- Một Lời Mời Gọi Học Hỏi Về Tôn Giáo (The Sacred Quest -- An Invitation to The Study of Religion) để tóm gọn tầm nhìn của tôi về tôn giáo với bốn yếu tố cấu thành: ''Tôn giáo biểu thị những cách nhìn về thế giới, và những cách nhìn này (thứ nhất) có đề cập đến một khái niệm về thực tại thần thiêng (thứ nhì) được thể hiện nơi cảm nhận của con người (thứ ba) theo một cách thức đưa đến việc tạo nên những đường lối có tác dụng mạnh mẽ và lâu bền trong cung cách suy nghĩ, cảm xúc, và hành xử (thứ bốn) đối với những vấn đề của việc nhận biết và trật tự hóa sự hiện hữú'(16). Ngoài ra, tôi xin thêm vào đó chiều kích thứ ba đã được nói đến trong phần trên để có thể giúp cho câu định nghĩa của chúng ta được phổ quát hơn: (thứ năm) đó là những cung cách suy nghĩ, cảm xúc, và hành xử được thực hiện với tư cách cá nhân trong tương quan và trong môi trường của cộng đồng.
Sau khi đã duyệt xét tất cả những phương cách giải quyết tiền nhiệm cũng như dựa vào kinh nghiệm nêu trên, cũng như sau khi đã suy xét về một định nghĩa hai mặt về tôn giáo và kể cả việc cố gắng đưa ra một danh sách liệt kê những cấu tố chính của tôn giáo, ở đây tôi đã có thể nói được hay không rằng việc tìm hiểu của tôi về một định nghĩa tổng quát về tôn giáo dựa trên nghiên cứu cũng như cảm nhận tôn giáo cá nhân của riêng tôi đã đưa ra được kết quả là một cái nhìn khách quan và phổ quát về tôn giáo như một người ngoài cuộc không theo một niềm tin tôn giáo nào hoặc nếu có thì niềm tin của họ hoàn toàn không tương ứng với niềm tin của tôỉ Hoặc giả ý niệm của tôi về tôn giáo đã có thể nói được rằng đã phát xuất từ cảm nhận cá nhân riêng tư và chủ quan của tôi cũng như đã từ sự hành đạo của tôi trong đức tin Công Giáo. Ðặt câu hỏi một cách khác, phải chăng tôi đã chỉ đưa ra được một hình ảnh về tôn giáo theo đúng nhãn quan của một người trong cuộc tức là một ngưới có mang một niềm tin tôn giáo.
Câu trả lời sẽ là câu khẳng định cho câu hỏi thứ hai và thứ ba. Quả thực, định nghĩa sau cùng mà tôi đã suy luận, biên soạn, và đề nghị đã phản ảnh quá trình sống đạo và những quan niệm tiên kiến của tôi về tôn giáo. Vấn đề có liên quan đến yếu tố của đấng siêu việt là một ví dụ điển hình về sự thiên kiến sẵn có từ trong nỗ lực của tôi trong việc đi tìm một định nghĩa khách quan cho sự kiện tôn giáo. Thực vậy, tôi tự cảm thấy không thể giải quyết tận căn vấn nạn về chứng cớ của định hướng tự hữu trong bản tính con người về sự tương quan với đấng thần thánh. Vấn nạn này có lẽ cần phải đòi hỏi nhiều thời gian hơn cho những cuộc tranh luận và nghiên cứu triết học và thần học. Thế nên, sự việc tôi đã bỏ qua không giải quyết đến tận cùng vấn nạn này để đạt tới một định nghĩa cụ thể về tôn giáo phần nào đã chứng tỏ sự kiện tôi luôn sẵn sàng và dễ dàng chấp nhận không cần suy xét cặn kẽ những điều kiện của sự hiện hữu của đấng siêu việt và tương quan giữa thực tại thần thiêng này với con người.
Thực ra, như một người trong cuộc nhắm giải quyết vấn đề tôn giáo bằng chính kinh nghiệm tiếp cận trực tiếp và như vậy là chủ quan của mình, tôi có thể đưa ra nhận xét là công việc của mình làm tựa như công việc của một nhà thần học hoặc của một tín hữu đã quen nhìn mọi việc, mọi vật theo cái nhìm thấm nhiễm niềm tin tôn giáo của mình. Tuy nhiên sự cố gắng để đạt tới một cái nhìn khách quan và liên đới về văn hóa và truyền thống tôn giáo cũng vẫn nên được chấp nhận, dù rằng những sự quan sát hạn hẹp và những suy luận đơn giản tỏ ra không đủ sâu xa và rộng rãi để có thể được gọi là những sự quan sát và suy luận của người trong cuộc. Thế nên, sự nhận chân ra vấn đề nan giải của việc đi tìm một định nghĩa chung cho vấn đề tôn giáo dù sao đi nữa cũng đã đạt được bước đầu cần thiết cho những nỗ lực quan trọng kế tiếp trong việc tìm hiểu bản chất của tôn giáo.

CHÚ THÍCH
(1) A priori, xin được tạm dịch là tiền kinh nghiệm áp dụng cho những cảm nhận hoặc nguyên lý suy luận tiềm tàng sẵn trong cách suy nghĩ, cảm xúc của con người mà không cần đến những kinh nghiệm của giác quan để chứng minh sự hiện diện của nó.
(2) Roger Schmidt, Exploring Religion. Belmont, CA: Wadsworth Pub. Co, 1988, 7.
(4) Schmidt, 6.
(5) Ibid., 4.
(6) Ibid., 13-4.
(7) Keith Ạ Roberts, Religion In Sociological Perspectivẹ Belmont, CA: Wadsworth Pub. Cọ, 1990, 6-7.
(8) Larence S. Cunningham et al, The Sacred Quest -- An Invitation to The Study of Religion. NY: MacMillan Pub. Cọ, 1991, 25.
(9) Schmidt, 13.
(10) Ibid., 12.
(11) Ibid., 12.
(12) Cunningham, 15.
(13) Roberts, 3.
(14) Ibid., 4.
(15) Schmidt, 10.
(16) Cunningham, 26.
SÁCH TRÍCH DẪN
Cunningham, Lawrence S. et al. The Sacred Quest -- An Invitation to The Study of Religion. NY: MacMillan Pub. Co, 1991.
Comstock, Gary L. Religious Autobiographies. Belmont, CA: Wadsworth Pub. Co, 1995.
Roberts, Keith Ạ Religion in Sociological Perspectivẹ Belmont, CA: Wadsworth Pub. Cọ, 1990.
Schmidt, Roger. Exploring Religion. Belmont, CA: Wadsworth Pub. Co 1998.