This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026

Lực cản Nhà nước pháp quyền


Hoàng Xuân Phú *
Thuở ẩn trong dân cầu đông người tụ tập
Thời ngự trên dân cấm tụ tập đông người
Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà quyền lực của nó gắn chặt với pháp luật, tức là mọi quyền hạn của nó được quy định bằng pháp luật và mọi hành xử của nó phải tuân theo pháp luật.
 Pháp luật do bộ máy cầm quyền viết ra, làm công cụ để quản lý và điều khiển xã hội. Vấn đề then chốt của Nhà nước pháp quyền là bản thân giới cầm quyền cũng phải tuân theo những quy định pháp luật do chính họ đề ra. Một khi họ đã có lợi thế là được ban hành pháp luật theo “khẩu vị” của mình, thì việc chấp hành chúng không phải là quá khó. Lẽ ra là thế, nhưng tiếc thay, sự đời lại không đơn giản như vậy.

Báo cáo chính trịBáo cáo về các văn kiện đại hội và Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam đều thừa nhận là “Công tác… xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa… chuyển biến chậm”. Tại sao như vậy? Phải chăng vì “thần dân” lạc hậu, cứng đầu, ỳ ra không chịu tiến bước theo hối thúc của “đấng chăn dắt”? Không phải thế! Dân ta thuộc loại “dễ bảo” nhất, thường chấp nhận mọi mệnh lệnh, kể cả những mệnh lệnh phi lý. Chỉ cần chính quyền thực tâm mong muốn, thì có thể thay đổi tức khắc cả những tập quán tưởng như cố hữu của cả xã hội, ví dụ như chuyện cấm đốt pháo và bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy. Tiếc rằng, lực cản lớn nhất đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền lại đến từ bộ máy cầm quyền. Họ lạm quyền, vượt khỏi quyền hạn do chính họ ghi vào pháp luật. Họ vi phạm những quy định do chính họ ấn định trong pháp luật. Vậy thì làm sao có thể xây dựng được Nhà nước pháp quyền? Nêu tấm gương phản diện như vậy, thì làm sao có thể đòi hỏi muôn dân tôn trọng và chấp hành pháp luật?
 Để minh họa cho nhận định trên, ta hãy cùng nhau xem xét một số ví dụ về sự tùy tiện, vi phạm pháp luật trong việc ban hành và vận dụng các văn bản pháp quy để xử lý quyền biểu tình và quyền khiếu nại của công dân.
 Ví dụ điển hình là Nghị định Quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng số 38/2005/NĐ-CP (mà chính quyền vẫn quen gọi là “Nghị định 38″), do Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 3 năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 8 tháng 4 năm 2005. Nó được viện dẫn để trấn áp các cuộc biểu tình yêu nước, bảo vệ chủ quyền biển đảo trong hai mùa hè 2011 – 2012, và để bắt giữ một số người tham gia. Vì những người biểu tình có ý thức nhắc nhở nhau giữ gìn trật tự và không có hành động quá khích, nên khó mà lấy lý do làm mất trật tự công cộng để xử lý. Do đó, người ta hay quy kết là những người biểu tình vi phạm Nghị định số 38-2005-NĐ-CP ở chỗ “tập trung đông người ở nơi công cộng” mà không “đăng ký trước”. Đấy là khi lý lẽ còn được coi trọng đôi chút. Còn bình thường thì những người biểu tình bị vu luôn cho tội làm mất trật tự công cộng, để có cớ xử lý theo Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, mặc dù âm lượng họ phát ra, cũng như mức độ ảnh hưởng tới giao thông và cuộc sống của nhân dân trong khu vực lân cận, không bằng một phần nghìn so với những dịp mà chính quyền chiếm dụng các khu vực công cộng để tổ chức một số sự kiện. Hơn nữa, bất cứ ai đã trực tiếp chứng kiến các cuộc biểu tình yêu nước cũng có thể dễ dàng nhận ra rằng: Chính những người được điều đến để trấn áp biểu tình mới gây rối loạn xã hội và làm mất trật tự công cộng.
 Câu hỏi đặt ra là: Nghị định số 38-2005-NĐ-CP có hợp hiến, hợp pháp hay không và có thể áp dụng nó để ngăn cản biểu tình ôn hòa hay không? Tôi đã đề cập đến vấn đề này trong bài “Quyền biểu tình của công dân”, với hy vọng là những người có trách nhiệm sẽ xem xét lại và nhận ra những điều bất cập. Nhưng Nghị định số 38-2005-NĐ-CP vẫn được viện dẫn như chân lý để cản trở và trấn áp biểu tình. Bởi vậy, với bản năng coi trọng chuyện phân biệt đúng-sai của người nghiên cứu khoa học, tôi đành phải bỏ thời gian viết thêm bài này, mặc dù không muốn bước sang sân của các chuyên gia luật học.
 Sau đây ta sẽ không xem xét mọi khía cạnh của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và văn bản liên quan, mà chỉ chọn ra mấy ý, đủ để lập luận rằng Nghị định số 38-2005-NĐ-CP vi phạm Hiến pháp, pháp luật và không thể dùng nó để hạn chế quyền biểu tình của công dân được quy định trong Hiến pháp.
 Quy định của Hiến pháp, pháp luật và quyền hạn của Chính phủ
 Điều 69 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định:
Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”
Không phải đến năm 1992 thì quyền biểu tình mới được Hiến pháp công nhận. Giống như Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (xem Phụ lục 1) và Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức (xem Phụ lục 2), Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946 (xem Phụ lục 3) bảo đảm quyền tự do hội họp, trong đó mặc nhiên bao gồm cả quyền tự do biểu tình, theo đúng thuật ngữ pháp lý quốc tế. Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1960 (xem Phụ lục 4), Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980 (xem Phụ lục 5) và Hiến pháp 1992 tách riêng quyền biểu tình, đặt bình đẳng bên cạnh quyền hội họp, nghĩa là quyền biểu tình được nhấn mạnh hơn trước. Thay cho trạng từ “tự do” (trong cụm từ “tự do hội họp” và “tự do biểu tình”) ở các Hiến pháp 1946, 1960 và 1980, Hiến pháp 1992 đưa thêm quy ước “theo quy định của pháp luật”. Điều này mở đường cho việc ban hành các văn bản pháp luật để điều tiết, hạn chế việc hội họplập hội và biểu tình trong một khuôn khổ nào đó. Song chỉ Quốc hội mới có quyền ban hành các văn bản pháp luật ấy, bởi vì:
“Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.”
(Điều 83, Hiến pháp 1992)
 Cho đến nay, Quốc hội chưa ban hành luật hay điều luật nào để điều tiết hoặc hạn chế quyền biểu tình. Điều đó có nghĩa là: Không (hoặc chưa) có ràng buộc pháp luật nào đối với quyền biểu tình, và vì vậy công dân hoàn toàn có quyền tự do biểu tình ôn hòa, không phải làm thủ tục đăng ký, xin phép nào cả.
 Trong tất cả 11 khoản của Điều 112, quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ, Hiến pháp 1992 không có bất cứ khoản nào cho phép Chính phủ ban hành nghị định để hạn chế hay can thiệp vào quyền tự do của công dân được ghi trong Hiến pháp (xem Phụ lục 6).
 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 52-L/CTN, được Quốc hội thông qua ngày 12 tháng 11 năm 1996, quy định:
Nghị định của Chính phủ bao gồm :
A) Nghị định quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ thành lập; các biện pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ;
B) Nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Việc ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.”
(Điều 56, Khoản 2, Luật 52-L/CTN)
 Tuân theo Hiến pháp 1992, mục A) chỉ cho phép Chính phủ ban hành nghị định quy định chi tiết thi hành luật và các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước, ban hành nghị định về tổ chức và điều hành bộ máy Chính phủ và các cơ quan cấp dưới, chứ không được phép ban hành nghị định để hạn chế quyền công dân khi chưa có luật liên quan. Mục B) chấp nhận một trường hợp ngoại lệ, nhưng không thể xếp “quyền hội họp, biểu tình” vào phạm trù “chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật”, bởi nó đã được Hiến pháp quy định từ năm 1946 và được tái khẳng định trong cả 3 lần thay đổi Hiến pháp 1960, 1980 và 1992. Nếu quan niệm là “chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật” để điều tiết “quyền hội họp, biểu tình”, thì hóa ra cho rằng Quốc hội thời 1946, 1960, 1980 và 1992 viển vông, bộp chộp, nên mới đưa vào Hiến pháp những quyền công dân mà đến tận năm 2012 vẫn chưa chín muồi để xây dựng thành luật”.
 Như vậy, chưa cần xét đến nội dung của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, ta đã có thể kết luận rằng: Hoặc là Nghị định số 38-2005-NĐ-CP không hề can thiệp tới “quyền hội họp, biểu tình” của công dânhoặc là có can thiệp, thì đã vi phạm quy định của Hiến pháp và pháp luật về quyền hạn của Chính phủ, để cản trở các quyền hiến định.
 Nghị định số 38/2005/NĐ-CP
 Cơ sở pháp lý duy nhất được nêu trong phần mở đầu của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP là:
“Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001.”
Nghĩa là hoàn toàn không có mệnh đề
“Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
như các văn bản luật thông thường. Hiển nhiên, một văn bản pháp quy không căn cứ vào Hiến pháp thì không thể chi phối các quyền công dân được ghi trong Hiến pháp.
 Điều 7 của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP được viết nguyên văn như sau:
Điều 7. Quy định về tập trung đông người ở nơi công cộng
Việc tập trung đông người ở nơi công cộng phải đăng ký trước với Ủy ban nhân dân có thẩm quyền nơi diễn ra các hoạt động đó và phải thực hiện đúng nội dung đã đăng ký. Quy định này không áp dụng đối với các hoạt động do các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội tổ chức.”
Chỉ riêng điều luật khá ngắn này đã chứa đựng nhiều cái sai trái, vi phạm Hiến pháp và pháp luật.
 Cái sai đầu tiên là việc sử dụng thuật ngữ. “Tập trung đông người” là gì? Đấy không phải là một thuật ngữ pháp lýchính xác, phổ thông, và không hề xuất hiện trong cả bốn bản Hiến pháp của Việt Nam. Ngược lại, Nghị định số 38-2005-NĐ-CP hoàn toàn tránh, không nhắc đến thuật ngữ pháp lý cơ bản “hội họp” và “biểu tình”, được sử dụng trong các Hiến pháp. Vì sao lại như vậy? Phải chăng vì không muốn chấp nhận và muốn tránh gợi cho dân nhớ tới quyền “hội họp” và “biểu tình”? Hay vì họ biết rõ Hiến pháp và pháp luật không cho phép Chính phủ ban hành nghị định để hạn chế những quyền hiến định ấy, nên mới chơi chữ để lách luật và để sau này nếu bị phản đối thì có thể đổ cho cấp dưới vận dụng sai? Liệu có nên dùng thuật ngữ “tập trung đông người” để chỉ các cuộc họp Quốc hội, họp Trung ương và Bộ chính trị của Đảng CSVN, và họp Chính phủ hay không? Vì sao? Như vậy là thiếu tôn trọng ư? Nếu thế thì sao lại dùng cụm từ ấy để chỉ một hình thức hoạt động hoàn toàn chính đáng của nhân dân? Bao nhiêu thì bắt đầu coi là “đông người”“Tổ chức chính trị – xã hội” là gì? Nếu chỉ dựa vào ngôn ngữ phổ thông, thì không chỉ mặt trận hay công đoàn, mà một số tổ chức bị chính quyền quy là phản động và cấm hoạt động cũng là “tổ chức chính trị – xã hội”. Chẳng nhẽ công dân bình thường muốn tập trung thì phải “đăng ký trước”, còn mấy tổ chức bị chính quyền coi là xấu lại được tự do tổ chức tập trung ở nơi công cộng hay sao? Thuật ngữ “tập trung đông người” được dùng 21 lần trong Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, nhưng không hề được định nghĩa hay giải thích. Thuật ngữ “Ủy ban nhân dân có thẩm quyền” và “tổ chức chính trị – xã hội” cũng chịu chung một số phận. Như vậy, Nghị định số 38-2005-NĐ-CP đã vi phạm Điều 5 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 52-L/CTN:
Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải đơn giản, dễ hiểu.Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung, thì phải được định nghĩa trong văn bản.”
 Cái sai thứ hai liên quan đến tính khả thi và thực thi. Luật số 52-L/CTN quy định như sau:
Điều 7. Văn bản quy định chi tiết thi hành
1- Luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác phải được quy định cụ thể để khi các văn bản đó có hiệu lực thì được thi hành ngay.
Trong trường hợp luật, pháp lệnh có điều, khoản cần phải được quy định chi tiết bằng văn bản khác, thì ngay tại điều, khoản đó, phải xác định rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và thời hạn ban hành văn bản.
2- Văn bản quy định chi tiết thi hành phải được soạn thảo cùng với dự án luật, pháp lệnh để trìnhcơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời ban hành khi luật, pháp lệnh có hiệu lực.
Rõ ràng, khi chưa biết bao nhiêu là “đông người” và cấp nào là “Ủy ban nhân dân có thẩm quyền” cấp phép “tập trung đông người ở nơi công cộng” thì không thể “thi hành ngay” khi Nghị định số 38-2005-NĐ-CP “có hiệu lực”.Hơn nữa, “ngay tại” Điều 7 của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP không hề “xác định rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và thời hạn ban hành văn bản” để quy ước mức gọi là “đông người”  cấp gọi là “Ủy ban nhân dân có thẩm quyền”. Trên thực tế, cái “văn bản quy định chi tiết thi hành” cũng không được “kịp thời ban hành”khi Nghị định số 38-2005-NĐ-CP “có hiệu lực”.  Điều 14 của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP viết rằng: “Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.” Và ngày công báo của nghị định này là 24/03/2005. Trong khi đó, Thông tư số 09/2005/TT-BCA hướng dẫn thi hành Nghị định số 38-2005-NĐ-CP được Bộ Công an ban hành ngày 5 tháng 9 năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 2005. Tức là khoảng 6 tháng sau khi Nghị định số 38-2005-NĐ-CP có hiệu lực thì mới có văn bản để quy định thế nào là “tập trung đông người ở nơi công cộng” và cấp nào là “Ủy ban nhân dân có thẩm quyền” cấp phép. Vậy là Nghị định số 38-2005-NĐ-CP vi phạm cả 3 ý trong Điều 7 của Luật số 52-L/CTN.
 Cái sai thứ ba thuộc về tư duy lô-gíc, liên quan đến sự tồn tại của chủ thể hành động. Để đăng ký thì phải có người đứng ra đăng ký (xem Phụ lục 2). Nhưng đối với những cuộc tập trung đông người tự phát, không có người tổ chức, thì ai là người phải đứng ra đăng ký? Cuộc sống luôn có nhiều cuộc tập trung tự phát, không hề có người tổ chức. Ví dụ, khi hàng trăm, hàng nghìn người kéo đến Hồ Gươm xem rùa nổi lên, hay khi hàng chục người xếp hàng trước cổng để chờ đợi đến lượt vào chúc tết và trao phong bì cho lãnh đạo, thì ai phải đi đăng ký? Hơn nữa, khi mọi người buộc phải tập trung ngoài ý muốn, như khi bị tắc đường chẳng hạn, thì ai tự nguyện đi đăng ký? Ngay cả biểu tình cũng có nhiều cuộc hoàn toàn tự phát, không hề có người đứng ra tổ chức. Kể cả khi có lời kêu gọi của ai đó thì không có nghĩa là người đó tổ chức. Trước năm 1973, khi các cơ quan, đoàn thể của Việt Namkêu gọi nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh thì không có nghĩa là phía Việt Nam đứng ra tổ chức phong trào phản chiến ở Mỹ. Ngày nay, khi một số người lãnh đạo kêu gọi chống tham nhũng thì không có nghĩa là họ đứng ra tổ chức chống tham nhũng.
 Cái sai thứ tư cũng thuộc về tư duy lô-gíc, là không thể tiến hành thủ tục đăng ký trước nếu lý do để nhiều người tập trung là một sự kiện xảy ra đột ngột, mang tính thời sự (xem Phụ lục 2). Ví dụ như khi có tai nạn giao thông hay hỏa họan, thì mọi người phải tập trung ứng cứu ngay, chứ không thể nộp đơn đăng ký và đợi một tuần để được phép tập trung. Đối với biểu tình cũng tương tự: Nếu bị tác động bởi một sự kiện mang tính thời sự, vừa mới xảy ra, thì mọi người có nhu cầu thể hiện thái độ ngay lập tức, chứ không thể chờ đợi thêm một tuần nữa với hy vọng sẽ được cấp phép, vì nếu sự kiện gây bức bối trôi qua lâu rồi mới biểu tình phản đối, thì cũng vô duyên như nghe chuyện tiếu lâm hôm trước rồi hôm sau mới cười nắc nẻ.
 Cái sai thứ năm là xâm phạm quyền sinh sống, quyền hoạt động tối thiểu của con người. Biết bao hoạt động thông thường của con người có thể quy về trạng thái “tập trung đông người ở nơi công cộng”. Tập thể dục ở công viên, đi chợ, chờ đợi ở bến ô-tô buýt, cùng có mặt ở trường học hay chỗ làm việc, ăn uống ở quán, và bao hoạt động khác nữa đều là “tập trung đông người ở nơi công cộng”, chứ không chỉ có biểu tình hay tập trung khiếu kiện. Vậy mà Điều 7 của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP đòi hỏi mọi “việc tập trung đông người ở nơi công cộng phải đăng ký trước”, chỉ chừa ra “các hoạt động do các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội tổ chức.” Còn ở đâu trên thế giới có một quy định kỳ lạ như thế nữa không? Điều 7 của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP không chỉ xâm phạm quyền công dân được quy định trong Hiến pháp, mà xâm phạm cả quyền sinh sống sơ đẳng của con người – theo mọi thước đo trên đời.
 Chỉ riêng Điều 7 của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, với vẻn vẹn 83 chữ, đã chứa nhiều cái sai như vậy. Vậy nghị định này có xứng đáng với vai trò của một văn bản quy phạm pháp luật để quản lý xã hội và bắt nhân dân phải tuân thủ hay không?
 Thông tư số 09/2005/TT-BCA
 Để định nghĩa khái niệm “tập trung đông người ở nơi công cộng”, Điểm 4.1 của Thông tư số 09/2005/TT-BCA viết nguyên văn như sau:
“4.1. Hoạt động tập trung đông người ở nơi công cộng theo quy định của Nghị định số 38 và hướng dẫn tại Thông tư này là những trường hợp tổ chức tập trung từ 5 người trở lên tại các khu vực, địa điểm phục vụ chung cho mọi người như vỉa hè, lòng đường, quảng trường, cơ sở kinh tế, văn hóa, nơi sinh hoạt cộng đồng; tại khu vực trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội hoặc tại những nơi công cộng khác nhằm mục đích đưa ra yêu cầu hoặc kiến nghị về những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, gia đình, tổ chức hoặc nhằm đưa ra những yêu cầu, kiến nghị về những vấn đề có liên quan chung đến đời sống chính trị – xã hội, đếnquyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.”
 Theo định nghĩa trên thì “tập trung đông người” phải là “những trường hợp tổ chức tập trung”. Tức là: Để khắc phục cái sai thứ ba của Điều 7 thuộc Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, Thông tư số 09/2005/TT-BCA đã bổ sung thêm từ “tổ chức”, nhằm có được chủ thể hành động cho việc “đăng ký trước”. Vì vậy, hai văn bản này chỉ còn chi phối những trường hợp tập trung có tổ chức. Thế thì tại sao hai văn bản này vẫn được viện dẫn để xử lý các cuộc biểu tình tự phát, không có người đứng ra tổ chức?
 Tiếp theo, thông tư này quy ước “tập trung từ 5 người trở lên” đã là “tập trung đông người”. Dựa vào cơ sở nào mà bảo “5 người” là “đông”? Nếu trong chợ, ngoài đường, ở vườn hoa hay trên sân vận động… chỉ có 5 người, thì tiếng Việt gọi là vắng, là lèo tèo, là ít người, chứ không thể gọi thế là “đông người” được. Vậy là Thông tư số 09/2005/TT-BCA  lại vi phạm Điều 5 của Luật số 52-L/CTN, quy định:
Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông…”
 Thật là phi lý, nếu một gia đình hay một nhóm bạn bè có 5 người đi cùng nhau đã bị gán cho cái nhãn “tập trung đông người ở nơi công cộng” và phải “đăng ký trước với Ủy ban nhân dân có thẩm quyền”. Tất nhiên, nếu cứ“tập trung từ 5 người trở lên” ở nơi công cộng là “phải đăng ký trước”, theo đúng quy định của Điều 7 thuộc Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, thì xã hội sẽ đại loạn, và dù bộ máy chính quyền có dồn hết nhân lực, thời gian để duyệt đơn và cấp phép cho “tập trung đông người ở nơi công cộng” thì cũng không thể làm xuể. Do đó, để chữa cái sai thứ năm của Điều 7 thuộc Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, vế sau của Điểm 4.1 thuộc Thông tư số 09/2005/TT-BCA đành phải hạn chế phạm vi chi phối là những trường hợp tập trung
“… nhằm mục đích đưa ra yêu cầu hoặc kiến nghị về những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, gia đình, tổ chức hoặc nhằm đưa ra những yêu cầu, kiến nghị về những vấn đề có liên quan chung đến đời sống chính trị – xã hội, đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.”
Có nghĩa là: Khi “tập trung”, dù “đông người” và có “tổ chức”, nhưng không “nhằm mục đích” kể trên, thì không thuộc vào phạm trù “tập trung đông người ở nơi công cộng theo quy định của Nghị định số 38 và hướng dẫn tại Thông tư này”, và vì vậy không “phải đăng ký trước”. Ví dụ: Khi phía Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam, thì những người biểu tình yêu nước chỉ phản đối hành động đó của “láng giềng tốt”, chứ không hề“đưa ra yêu cầu hoặc kiến nghị” đối với chính quyền Việt Nam, và điều họ phản đối chỉ liên quan đến danh dự và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chứ không hề “liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, gia đình, tổ chức”, hay “đời sống chính trị – xã hội”, hay “quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác”. Cho nên, theo vế sau của Điểm 4.1 thuộc Thông tư số 09/2005/TT-BCA, biểu tình yêu nước không thuộc đối tượng chi phối của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và vì thế không “phải đăng ký trước” (kể cả trường hợp có người đứng ra tổ chức). Vậy thì tại sao người ta vẫn viện dẫn Nghị định số 38-2005-NĐ-CP để trấn áp biểu tình yêu nước ôn hòa và bắt bớ những người tham gia?
 Thế mới biết, một khi đã bất chấp, tùy tiện sinh ra thuật ngữ “tập trung đông người”, thì không dễ khắc phục cái sai của nó.
 Hội chứng sợ đông người
 Những phân tích ở hai phần trên chỉ ra rằng:
 -         Nghị định số 38-2005-NĐ-CP vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Khi Quốc hội không hoặc chưa ban hành luật hay điều luật tương ứng thì Chính phủ không có quyền ban hành nghị định để hạn chế quyền biểu tình của công dân được quy định trong Hiến pháp.
 -         Việc các cơ quan chính quyền, công an viện dẫn Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA để trấn áp các cuộc biểu tình yêu nước ôn hòa và bắt bớ một số người tham gia là sai về nhiều phương diện, không chỉ sai so với Hiến pháp và pháp luật, mà sai so với chính Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA, bởi theo định nghĩa trong Thông tư số 09/2005/TT-BCA thì các cuộc biểu tình yêu nước đã diễn ra ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong hai mùa hè 2011-2012 không thuộc phạm trù “tập trung đông người ở nơi công cộng theo quy định của Nghị định số 38 và hướng dẫn tại Thông tư này“.
 Tại sao lại có thể soạn thảo và ban hành một nghị định đầy sai trái như vậy? Phải chăng nó được sinh ra gấp gáp, để đối phó với phản ứng khắp nơi của người dân trước nạn mất đất tràn lan?
 Đất đai người dân đang sử dụng để sinh sống, thì đột nhiên bị trưng thu với giá bồi thường rẻ mạt, nhân danh sở hữu Quốc gia để lấy đi, rồi trao cho… các đại gia. Nơi thì chiếm dụng lâu dài, nơi thì tiến hành mấy thao tác đầu tư, rồi đem bán lại với giá cao gấp bội, khiến chủ cũ ngẩn ngơ, vì có khi chồng hết số tiền được đền bù cho cả trăm mét vuông đất cũng chỉ đủ để mua lại mấy mét vuông.  Chợ thì dân đang họp, thậm chí mới buộc phải góp tiền xây chợ chưa lâu, nay lại bị giải tỏa để xây siêu thị của… tư nhân. Chẳng nhẽ các nạn nhân phải nín chịu, để tỏ ra là đang mãn nguyện trong tự do, hạnh phúc hay sao? Bất công quá, không chịu nổi thì họ phải lên tiếng. Nhiều người cùng cảnh, cùng nạn, thì cùng khiếu nại. Thế là bị gán cho cái nhãn “tập trung đông người” và “khiếu kiện đông người”Theo báo cáo tại phiên họp Quốc hội ngày 1 tháng 11 năm 2006, 80% các vụ khiếu kiện đông người là liên quan đến đất đai, chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng.
 Có bất công trầm trọng thì hàng trăm người dân mới bỏ cả công việc kiếm sống mà cùng nhau đi khiếu nại. Những người dân vốn dĩ lành như cục đất, mấy chục năm qua Đảng CSVN bảo gì nghe nấy, quen tuân thủ bất cứ mệnh lệnh nào của chính quyền, vậy mà bây giờ họ phải cùng nhau lên tiếng. Trong số “đông người” ấy có cả những gia đình đã cưu mang bao thế hệ lãnh đạo, có nhiều người đã vào sinh ra tử vì Tổ quốc… Không chỉ bảo vệ lợi ích cá nhân, đòi lại công bằng, mà hành động của họ còn vạch trần sai trái, tố cáo tham nhũng, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thủ phạm chính “gây mất trật tự, an ninh” là phía gây chuyện bất công, nhưng lại không bị lên án, không bị xử lý. Thay vào đó, cái tội “gây mất trật tự, an ninh” lại được chụp lên đầu các nạn nhân, làm lý do để ngăn cản họ đồng thanh lên tiếng. Chẳng nhẽ “vì dân” có nghĩa là “cái gì xấu cũng vì dân” hay sao?
 Nếu thực tâm muốn giải quyết ổn thỏa bức xúc của người dân, thì giải quyết chung trong một vụ khiếu nại sẽ đỡ tốn công hơn nhiều so với chẻ nhỏ thành hàng trăm vụ khiếu nại giống hệt như nhau. Hơn nữa, để cho nhiều người dân không đồng thanh khiếu nại thì phải chấn chỉnh, ngăn chặn tệ nạn chiếm đất tràn lan của dân để giao cho tư nhân mà không đền bù thỏa đáng. Nhưng lại gán cho “tập trung đông người” và “khiếu kiện đông người” cái nguyên nhân là “do kẻ xấu, thế lực thù địch xúi giục” và cái tội là “gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới an ninh và trật tự công cộng”. Phải chăng quy kết như vậy để có lý do ngăn cản những “người cùng khổ” đoàn kết với nhau đòi lại công bằng?
 Để ngăn cản “tập trung đông người” thì sử dụng Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA. Để ngăn cản “khiếu kiện đông người” thì sử dụng thêm Nghị định số 136/2006/NĐ-CP và Thông tư số 04/2010/TT-TTCP, trong đó không chấp nhận “đơn khiếu nại có chữ ký của nhiều người”, mặc dù Hiến pháp 1992 chấp nhận “quyền khiếu nại” không hạn chế và Luật khiếu nại, tố cáo số 09/1998/QH10 chấp nhận đích danh việc “nhiều người khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung” và “cử đại diện để trình bày”, nghĩa là chấp nhận những vụ khiếu nại của nhiều người cùng đứng tên (xem Phụ lục 7). Ngoài các đường dây tham nhũng, các “nhóm lợi ích”, những biện pháp ngăn cản bất chấp Hiến pháp và pháp luật bảo vệ được ai?
 Chẳng nhẽ “có tật giật mình“, biết rõ mình đã phạm những tội gì đối với dân, với nước, nên sợ rằng nếu sau này nhân dân biết được sự thật thì sẽ không thể dung tha, do đó phải ngăn chặn phản ứng từ xa hay sao?
 “Cây ngay không sợ chết đứng.” Nếu chính quyền thực sự vì dân, vì nước, chỉ làm điều tốt, thì chắc chắn sẽ được đại đa số nhân dân ủng hộ. Khi đó, nếu dân có “tập trung đông người” thì cũng chỉ để mít tinh ca ngợi, hoặc để bảo vệ chính quyền trước thù trong, giặc ngoài (nếu có) mà thôi. Nếu họ tập trung đưa ra kiến nghị, góp ý, thì cũng chỉ nhằm giúp cho chính quyền tốt đẹp hơn nữa. Vậy thì việc gì phải tìm cách ngăn cản “tập trung đông người”?
 Giành được chính quyền là nhờ có “đông người” che chở, giúp đỡ. Thắng được kẻ thù trong chiến tranh cũng nhờ vận động được “đông người” hy sinh xương máu. Thuở phải dựa vào dân, trăm sự cậy nhờ dân, thì càng đông càng tốt, hy sinh triệu người vẫn chưa nản. Sao bây giờ lại sợ “đông người” làm vậy?
 Sai đến bao giờ?
 Phải chăng, vì chăm chăm nhằm vào mục tiêu dẹp phản ứng của những người dân bị mất đất đai, tài sản… và vì năm 2005 chưa thấy có dấu hiệu của biểu tình, nên Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA chủ yếu nhằm vào những đoàn người kéo nhau đi khiếu nại? Và phải chăng vì thế mà Điểm 4.1 của Thông tư số 09/2005/TT-BCA mới đưa ra định nghĩa về “tập trung đông người” chỉ là nhằm mục đích đưa ra yêu cầu hoặc kiến nghị về những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, gia đình, tổ chức…”, khiến nó không bao gồm được “biểu tình yêu nước”? Thôi thì đã lỡ viết ra như vậy thì đành lòng vậy. Chính phủ và Bộ Công an đã áp đặt những quy định theo ý muốn chủ quan của mình, thì cũng nên tôn trọng và áp dụng đúng các quy định của chính mình, cớ sao “cấm chó mà lại đòi bắt trâu”?
 Vì sao chính quyền, công an, trong đó có bao người gắn đủ thứ bằng cấp, vẫn hùng hồn viện dẫn Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA để cấm đoán và trấn áp biểu tình yêu nước? Phải chăng họ chưa hề đọc hai văn bản mà họ thường lấy làm bảo bối, hoặc đã đọc rồi nhưng không hiểu nổi? Nên chăng tổ chức cho các công chức trong bộ máy chính quyền, các sĩ quan và chiến sĩ công an, các cán bộ cơ sở ở cấp phường, cấp xã, và cả lãnh đạo cấp cao… thi đua tìm hiểu Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA? Âu cũng là một hình thức học tập và làm theo… pháp luật.
 Vì sao một số người tham gia biểu tình yêu nước vẫn bị sách nhiễu, thậm chí bị hành hạ, dù họ chẳng làm gì phạm pháp? Chẳng nhẽ những người thừa hành đã bị nhào nặn thành robot vô tri, chỉ còn biết tuân theo mệnh lệnh, bất chấp pháp luật, bất chấp đúng sai hay sao?
 Có chút cương vị trong bộ máy cầm quyền thì nhiều vị đã suy nghĩ và hành động như “quan phụ mẫu”, như thể là bố mẹ của dân. Cho nên mới đòi dạy dỗ thiên hạ, và còn “nặng lời vì nói nhẹ không nghe“. Thật “ngộ” khi “cán bộ mầm non” lại đòi giáo dục người về hưu. Thật trớ trêu khi kẻ sai lại lên mặt uốn nắn người đúng, kẻ hiểu biết dưới tầm lại lớn tiếng giáo dục người có trí tuệ tinh thông.
 Có thể ai đó sẽ biện hộ rằng đấy chỉ là sai lầm của cấp dưới, do trình độ hạn chế của cán bộ ở cơ sở. Nhưng nghị định là tác phẩm của Chính phủ, đâu phải là bài tập thực hành của cán bộ cấp phường? Tại sao lại có thể sinh ra những văn bản pháp quy vi phạm Hiến pháp và pháp luật như Nghị định số 38-2005-NĐ-CP?
 Không thể phủ nhận rằng trình độ kém cỏi là một trong những nguyên nhân khiến các cấp chính quyền vi phạm pháp luật tràn lan. Giả sử những người soạn thảo và ban hành Nghị định số 38-2005-NĐ-CP thông hiểu Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 52-L/CTN (là luật chỉ dành riêng cho giới lãnh đạo, chứ không hề liên quan đến dân thường), thì chẳng khó khăn gì để ghi thêm vào đó mấy câu như: Bộ Công an sẽ ban hành thông tư để quy định về khái niệm “tập trung đông người ở nơi công cộng” và cấp “Ủy ban nhân dân có thẩm quyền” cấp phép, và ban hành Thông tư số 09/2005/TT-BCA cùng lúc với Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, để không vi phạm Điều 7 của Luậtsố 52-L/CTN.
 Lẽ ra phải đào tạo tử tế trước khi bổ nhiệm nhân sự vào những vị trí quan trọng. Khi được “bổ nhiệm non” thì phải biết điều, nghiêm túc nhìn nhận sự yếu kém của mình, chịu khó học hỏi để nâng tầm hiểu biết và tư duy, nhằm xứng đáng với cương vị đảm nhiệm. Thế nhưng, nhiều vị lại tự đắc với tầm ngồi, ỷ thế cái ghế quyền lực đã leo lên được để làm bừa, ngạo mạn coi thường nhân dân, đòi giáo dục cả bậc thầy và đe nẹt cả những người đã từng vào sinh ra tử nơi chiến trường từ thuở mình còn quấn tã.
 Song không thể quy mọi vi phạm Hiến pháp, pháp luật của chính quyền cho sự hạn chế trình độ. Bởi lẽ, nhiều điều không hề quá khó và đã được bao người góp ý, nhưng các “con trời” vẫn không học, không nghe, mà cứ làm ngơ, cố tình làm bằng được theo ý mình, nhiều khi như thách thức dư luận. Lý do quan trọng nhất là thái độ bất chấp pháp luật của quá nhiều người trong bộ máy cầm quyền. Dù kém cỏi đến đâu thì họ cũng phải biết những quyền công dân cơ bản được quy định trong Hiến pháp, và biết rằng mọi văn bản pháp quy khác đều phải tuân theo Hiến pháp. Thế nhưng họ vẫn ngang nhiên phủ định, tìm mọi cách để ngăn cản công dân thực hiện các quyền đó. Phía trên thì ban hành văn bản trái Hiến pháp, pháp luật, để cản trở quyền công dân. Phía dưới thì trên sai bảo gì cũng làm, bất chấp phải trái và cơ sở pháp lý, tuân theo cả những mệnh lệnh mà lãnh đạo cấp trên thừa biết là sai trái, nên cố tình dấu mặt để trốn tránh trách nhiệm và sự lên án của dư luận.
 7 năm qua, kể từ khi Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA có hiệu lực đến nay, cả nước có bao nhiêu trường hợp được cấp phép “tập trung đông người ở nơi công cộng”? Câu trả lời sẽ nói lên động cơ của những người soạn thảo, ban hành và những người vận dụng hai văn bản ấy. Đó là bức trường thành được dựng lên để ngăn cản, chứ không phải là cánh cổng mở ra để điều tiết. Về thực chất thì họ sợ và hoàn toàn không muốn chấp nhận bất cứ một cuộc biểu tình nào (không do chính quyền tổ chức), bất kể vì mục đích gì và được tổ chức như ra sao. Chính vì vậy, họ tìm mọi cách chống chế để không ban hành luật biểu tình, mặc dù luật biểu tình là phương tiện hợp pháp tốt nhất để hạn chế và kiểm soát biểu tình, và nếu muốn thì họ có thể đưa vào luật những điều khoản quy định ngặt nghèo đến mức trên thực tế khó mà có thể biểu tình được. Rõ ràng, họ phủ định tuyệt đối quyền biểu tình được ghi trong Hiến pháp hiện hành, tức là chống lại Hiến pháp. Khi không thể tiếp tục công khai khước từ, thì giao cho Bộ Công an soạn thảo luật biểu tình. Giải pháp đó giống như trao còi trọng tài cho một trong hai đội bóng giao đấu trên sân, vì mục tiêu của luật biểu tình không chỉ là điều tiết hành động những người tham biểu tình, mà còn khống chế cả cách hành xử của bộ máy công an. Rồi bao giờ luật biểu tình mới thực sự được soạn thảo và được thông qua thì chỉ “trời” mới biết.
 Một khi Hiến pháp đã quy định “Công dân có quyền … biểu tình theo quy định của pháp luật” thì chỉ còn có hai hoàn cảnh có thể xảy ra: Hoặc là ban hành luật để hạn chế và điều tiết quyền biểu tình, hoặc là không ban hành luật liên quan thì có nghĩa là công dân có quyền biểu tình không hạn chế. Vấn đề được phép đặt ra không phải là chấp nhận biểu tình hay không, mà chỉ là chấp nhận biểu tình thế nào. Đơn giản như vậy, nhưng nhiều người vẫn không hiểu, hoặc cố tình không chịu hiểu.
 Ngay trong Quốc hội cũng có những tiếng nói cực lực phản đối việc thực hiện quyền biểu tình và ban hành luật biểu tình. Đại biểu năng nổ nhất là của Thành phố Hồ Chí Minh, tên là Hoàng Hữu Phước, người nổi tiếng với một số bài viết, như bài “Tôi và Tổng thống Saddam Hussein”. Đại biểu Quốc hội có quyền đề xuất và tham gia sửa đổi Hiến pháp, nhưng lại không được phép phát biểu chống lại Hiến pháp. Điều 3 của Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội số 56 L/CTN, được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 15 tháng 4 năm 1997, quy định: Đại biểu Quốc hội phải“trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Vậy mà, ông nghị Phước lại thay lòng trung thành với Hiến pháp bằng lòng trung thành với Chính phủ, và trong khi nhiệt thành thể hiện tinh thần bảo vệ Chính phủ, thì ông lại ngang nhiên chống lại Hiến pháp ngay giữa diễn đàn Quốc hội. Thành thử mới bị nhắc nhở rằng: Đại biểu Quốc hội không thể phát biểu vi hiến.” Tiếc rằng, người nhận ra và nhắc nhở vi phạm tối kỵ ấy của ông nghị Phước lại là Luật gia Trần Đình Thu, chứ không phải là Lãnh đạo Quốc hội.
 Chiểu theo Hiến pháp 1992, Điều 18 của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội số 05/2003/QH11, được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2003quy định:
Ủy ban thường vụ Quốc hội… đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội xem xét, quyết địnhtại kỳ họp gần nhất.”
Chắc hẳn không hiếm văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật. Đã bao giờ Ủy ban thường vụ Quốc hội  thực hiện nhiệm vụ kể trên hay chưa? Đợi đến bao giờ thì Ủy ban thường vụ Quốc hội mới xem xét và xử lý Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA, cũng như Nghị định số 136/2006/NĐ-CP và Thông tư số 04/2010/TT-TTCP?
 Để xây dựng Nhà nước pháp quyền
 Muốn có được Nhà nước pháp quyền thì phải phê phán và ngăn chặn, thậm chí phải lên án và nghiêm trị những hành động lạm quyền, vi phạm Hiến pháp và pháp luật của bất kỳ ai trong bộ máy cầm quyền. Phải loại bỏ những người cố tình vi phạm Hiến pháp và pháp luật ra khỏi bộ máy lãnh đạo.
 Điều tối thiểu là phải chấp hành triệt để nguyên lý cơ bản, như được ghi trong Điều 146 của Hiến pháp 1992:
“Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất.
Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.”
Phải cương quyết chấm dứt tệ nạn ban hành các văn bản pháp quy vi phạm Hiến pháp và pháp luật.
 Nếu bộ máy cầm quyền muốn có những quyền hành gì thì cứ trung thực ghi thẳng vào Hiến pháp, và sau đó thì không được lạm quyền, tức là không được vượt quá quyền hạn ấy nữa. Nếu không định chấp nhận những quyền gì của công dân, của xã hội, thì hãy thẳng thắn và can đảm loại bỏ chúng ra khỏi Hiến pháp. Những quyền công dân và quyền của các tổ chức còn tồn tại trong Hiến pháp thì phải tuyệt đối tôn trọng, không được dùng mọi thủ đoạn để cản trở việc thực thi các quyền đó.
 Hiến pháp và pháp luật là công cụ để tổ chức, quản lý và điều khiển xã hội, chứ không phải là một thứ trang điểm hay ngụy trang cho chế độ. Không thể lập lờ, tránh ghi vào Hiến pháp những quyền hành mà trên thực tế bộ máy cầm quyền vẫn thực hiện, nhằm tránh mang tiếng xấu. Biết xấu thì đừng làm. Không thể hùng hồn ghi vào Hiến pháp những quyền công dân và quyền của các tổ chức mà bộ máy cầm quyền không chấp nhận trên thực tế. Đừng sĩ diện, giả tạo kiểu nhà giàu keo kiệt: Không muốn cho ai, nhưng lại muốn khoe khoang là mình hào phóng.
 Hiến pháp và pháp luật là thước đo của chế độ, là mốc chuẩn cho xã hội. Thước đo mà tùy tiện, mỗi lúc, mỗi nơi áp dụng một khác, thì chỉ làm cho chế độ xộc xệch, méo mó. Mốc chuẩn mà không được chính những người cầm quyền tôn trọng, thì chỉ làm cho xã hội thêm loạn.
 Lực cản chính cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền đến từ bộ máy cầm quyền, từ giới lãnh đạo. Để xây dựng Nhà nước pháp quyền thì phải hóa giải được lực cản ấy, nếu không thì Nhà nước pháp quyền cũng chỉ là thứ hữu danh vô thực, giống như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền hội họp, lập hội và quyền biểu tình (được ghi trong Điều 69 của Hiến pháp 1992) mà thôi.

Ghi chú: Mặc dù ngày 3 tháng 6 năm 2008 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 để thay thế, nhưng bài viết này vẫn trích dẫn Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật số 52-L/CTN, được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 12 tháng 11 năm 1996, vì Nghị định số 38-2005-NĐ-CP được ban hành vào năm 2005, tức là trước khi Luật số 17/2008/QH12 và sau khi Luật số 52-L/CTN có hiệu lực. Những nội dung mà bài viết này đã trích dẫn từ Điều 5, Điều 7 và Điều 56 của Luật số 52-L/CTN vẫn còn nguyên giá trị, được trình bày lại tương ứng tại Điều 5, Điều 8 và Điều 14 của Luật số 17/2008/QH12.
 Phụ lục 1
Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ quy định:
 Điều sửa đổi, bổ sung 1
Quốc hội sẽ không ban hành đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, hay hạn chế quyền tự do ngôn luận, hoặc quyền tự do báo chí, hoặc quyền của người dân về hội họp (assemble) ôn hòa  kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình.
Như vậy, Hiến pháp Mỹ quy định Quốc hội Mỹ không được phép ban hành luật nhằm hạn chế quyền hội họp (trong đó có quyền biểu tình), do đó người dân Mỹ hoàn toàn tự do thực hiện quyền ấy một cách ôn hòa.
 Phụ lục 2
Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức (Grundgesetz, có nghĩa là Luật cơ sở hay Luật cơ bản) quy định:
 Điều 8
(1)   Tất cả người Đức có quyền hội họp (versammeln) ôn hòa và không đem theo vũ khí mà không cần phải đăng ký hay xin phép.
(2)   Đối với các cuộc hội họp (Versammlungen) ngoài trời thì quyền này có thể bị hạn chế bởi luật hoặc trên cơ sở một luật.
Luật hội họp của Cộng hòa Liên bang Đức quy định:
 Điều 14
(1)   Ai có ý định tổ chức một cuộc hội họp ngoài trời ở nơi công cộng hay một cuộc tuần hành thì phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền muộn nhất là 48 giờ trước khi ra thông báo, phải trình bày mục đích của cuộc hội họp hay tuần hành.
(2)   Trong bản đăng ký phải chỉ ra người nào chịu trách nhiệm điều khiển cuộc hội họp hay tuần hành.
Như vậy, trách nhiệm “đăng ký” thuộc về người ”có ý định tổ chức”, và chỉ có thể tiến hành “đăng ký” khi tồn tại người “tổ chức”. Do đó, quy định “phải đăng ký” chỉ có thể nhằm vào các cuộc hội họp, tuần hành có người đứng ra tổ chức, không thể áp dụng cho các cuộc hội họp tự phát, không có người tổ chức.
Phán quyết Brokdorf của Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức ngày 14 tháng 5 năm 2005 (1 BvR 233, 341/81) đã chỉ rõ: Nghĩa vụ đăng ký quy định trong Điều 14 của Luật hội họp không được áp dụng cho các cuộc biểu tình tự phát và không thể dùng lý do “không đăng ký” để giải tán hay cấm biểu tình tự phát. Bên cạnh biểu tình không có người tổ chức, khái niệm “biểu tình tự phát”(Spontandemonstrationen) còn bao gồm cả những cuộc biểu tình hình thành tức thời vì lý do thời sự (Spontandemonstrationen, die sich aus aktuellem Anlaß augenblicklich bilden). Trong trường hợp này, người tổ chức (nếu có) cũng không phải đăng ký, bởi nếu phải đợi để cơ quan có thẩm quyền xét duyệt thì mất hết ý nghĩa thời sự, hoặc triệt tiêu mất duyên cớ dẫn đến biểu tình.
 Phụ lục 3
Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946 quy định:
 Điều thứ 10
Công dân Việt Nam có quyền:
-          Tự do ngôn luận
-          Tự do xuất bản
-          Tự do tổ chức và hội họp
-          Tự do tín ngưỡng
-          Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.
 Phụ lục 4
Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1960 quy định:
 Điều 25
Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó.
 Phụ lục 5
Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980 quy định:
 Điều 67
Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân.
Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó.
Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước và của nhân dân. 
Phụ lục 6
 Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 quy định:
 Điều 112
Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1-    Lãnh đạo công tác của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, xây dựng và kiện toàn hệ thống thống nhất bộ máy hành chính Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định; đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ viên chức Nhà nước;
2-    Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân; tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân;
3-    Trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội;
4-    Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân; thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quản lý và bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân; phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách Nhà nước;
5-    Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình, bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước và của xã hội; bảo vệ môi trường;
6-    Củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và mọi biện pháp cần thiết khác để bảo vệ đất nước;
7-    Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước; công tác thanh tra và kiểm tra Nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân;
8-    Thống nhất quản lý công tác đối ngoại của Nhà nước; ký kết, tham gia, phê duyệt điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;
9-    Thực hiện chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo;
10-   Quyết định việc điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
11-   Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả.
Lưu ý là trong Điều 112, Hiến pháp 1992 dùng chữ quyền hạn chứ không phải quyền. Nếu viết là quyền thì một điều luật cụ thể có thể chỉ đề cập đến một số quyền nào đó, còn khi viết là quyền hạn thì có nghĩa là tất cả các quyền chỉ có như vậy. Rõ ràng là: Hiến pháp 1992 hoàn toàn không cho phép Chính phủ ban hành nghị định hay những văn bản tương tự để hạn chế quyền công dân, mà ngược lại, Hiến pháp giao cho Chính phủ trách nhiệm “Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình”.
 Phụ lục 7
Điều 74 của Hiến pháp 1992 quy định:
“Công dân có quyền khiếu nạiquyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào.”
Điều 78 của Luật khiếu nại, tố cáo số 09/1998/QH10 (được Quốc hội khóa 10 thông qua ngày 2 tháng 12 năm 1998), quy định về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, tố cáo, có viết:
Cử đại diện để trình bày với người tiếp công dân trong trường hợp có nhiều người khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung.”
Điều 78 của Luật số 9/1998/QH10 không bị sửa đổi trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo số 26/2004/QH11, thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004, và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo số 58/2005/QH11, thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005.
Rõ ràng là Hiến pháp chấp nhận quyền khiếu nại (tự do, đầy đủ, không có hạn chế, không loại bỏ dạng khiếu nại nào) và Luật số 9/1998/QH10 chấp nhận đích danh trường hợp có nhiều người khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung” và được “cử đại diện để trình bày”, nghĩa là chấp nhận những vụ khiếu nại chung của nhiều người, chứ không phải tách thành những đơn riêng lẻ. Thế mà Chính phủ lại khước từ quyền chính đáng ấy bằng ban hành Nghị định số 136/2006/NĐ-CP, trong đó quy định:
“… trong trường hợp đơn khiếu nại có chữ ký của nhiều người thì có trách nhiệm hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn riêng…”
(Điều 6, Nghị định Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo, số 136/2006/NĐ-CP, ngày 14 tháng 11  năm 2006)
Thanh tra Chính phủ cũng khẳng định thêm trong Thông tư số 04/2010/TT-TTCP bằng quy định:
Đơn khiếu nại có họ, tên, chữ ký của nhiều người thì cán bộ xử lý đơn đề xuất Thủ trưởng cơ quan chuyển trả đơn…”
(Điều 8, Thông tư quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn phản ánh, kiến nghị liên quan đến khiếu nại, tố cáo, số 04/2010/TT-TTCP, ngày 26 tháng 8 năm 2010)
Như vậy, Nghị định số 136/2006/NĐ-CP và Thông tư số 04/2010/TT-TTCP đã vi phạm Hiến pháp và Luật số 9/1998/QH10.
Có lẽ chỉ ở Việt Nam mới có chuyện e ngại và tìm cách cản trở “khiếu kiện đông người”, chứ ở các nước khác thì việc nhiều người cùng ký vào một đơn kiện là chuyện hoàn toàn bình thường, hiển nhiên không có gì đáng bàn và không ai được phép khước từ những lá đơn khiếu nại như vậy.
Đơn của phía Việt Nam kiện các công ty Mỹ đã sản xuất chất độc màu da cam rải xuống chiến trường Việt Nam cũng do 3 người cùng ký tên. Nếu Chính phủ cho rằng “đơn khiếu nại có chữ ký của nhiều người” là sai, là không được, thì sao không ngăn chặn và“hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn riêng”, để giữ gìn thể diện Quốc gia?
25/09/2012
Nguồn: hpsc.iwr.uni-heidelberg.de/hxphu

Vì sao các Quốc gia thất bại (nguồn gốc của quyền lưc, thịnh vượng và nghèo khó) (14)

PHÁ VỠ KHUÔN ĐÚC
BA THỦ LĨNH PHI CHÂU
NGÀY 6 THÁNG CHÍN, 1895, tầu biển chở khách Tantallon Castle đã vào bến ở Plymouth miền duyên hải phía nam nước Anh. Ba thủ lĩnh Phi châu, Khama của Ngwato, Bathoen của Ngwaketse, và Sebele của Kwena, đã lên bờ và lấy chuyến xe lửa tốc hành 8 giờ 10 đi đến Ga Paddington, London. Ba thủ lĩnh đã đến Anh với một nhiệm vụ: để cứu các nhà nước của họ và năm nhà nước Tswana khác khỏi Cecil Rhodes. Ngwato, Ngwaketse, và Kwena đã là ba trong số tám nhà nước Tswana tạo thành cái khi đó được biết đến như Bechuanaland, mà sẽ trở thành Botswana sau độc lập trong năm 1966.
Các bộ lạc này đã buôn bán với những người Âu châu trong hầu hết thế kỷ thứ mười chín. Trong các năm 1840, David Livingstone nhà truyền giáo Scot nổi tiếng đã đi khắp Bechuanaland và đã cải đạo Vua Sechele của Kwena sang Kitô giáo (Christianity). Bản dịch đầu tiên của Kinh Thánh sang một ngôn ngữ Phi châu đã là bằng tiếng Setswana, ngôn ngữ của Tswana. Năm 1885 Anh đã tuyên bố Bechuanaland là một xứ bảo hộ. Những người Tswana đã thỏa mãn với sự dàn xếp, vì họ đã nghĩ rằng việc này sẽ mang lại sự bảo vệ cho họ khỏi các cuộc xâm lấn thêm của những người Âu châu, đặc biệt khỏi những người Boer, mà họ đã đụng độ với từ cuộc Di cư Lớn (Great Trek) trong năm 1835, một cuộc di cư của hàng ngàn người Boer vào nội địa để tránh chủ nghĩa thực dân Anh. Những người Anh, mặt khác, đã muốn kiểm soát vùng này để chặn cả sự bành trướng thêm bởi những người Boer (trang 260-261) và sự bành trướng khả dĩ của những người Đức, mà đã sáp nhập vùng tây nam châu Phi tương ứng với Namibia ngày nay. Những người Anh đã không nghĩ rằng một sự thuộc địa hóa quy mô rộng là bõ công. Cao ủy Rey đã tóm tắt thái độ của chính phủ Anh năm 1885 một cách rõ ràng: “Chúng ta không có lợi ích nào ở nước nằm ở phía bắc Molope [xứ bảo hộ Bechuanaland], trừ như một đường vào nội địa; vì thế hiện tại chúng ta có thể giới hạn mình để ngăn phần đó của xứ Bảo hộ bị chiếm đóng hoặc bởi bọn giặc cướp hay bởi các cường quốc nước ngoài, làm càng ít theo cách của chính quyền hay khu định cư càng tốt.”
Nhưng đối với những người Tswana tình hình đã thay đổi trong năm 1889 khi công ty Nam Phi Anh của Cecil Rhodes đã bắt đầu bành trướng lên phía bắc từ Nam Phi, cướp đoạt các dải đất lớn mà cuối cùng trở thành Bắc và Nam Rhodesia, bây giờ là Zambia và Zimbabwe. Vào năm 1895, năm của cuộc viếng thăm của ba thủ lĩnh đến London, Rhodes đã để mắt đến các vùng lãnh thổ tây nam của Rhodesia, Bechuanaland. Các thủ lĩnh đã biết rằng chỉ có tai họa và sự bóc lột nằm ở phía trước đối với các vùng lãnh thổ nếu chúng rơi vào sự kiểm soát của Rhodes. Mặc dù đã là không thể đối với họ để đánh bại Rhodes về mặt quân sự, họ đã kiên quyết để chiến đấu với ông ta theo bất cứ cách nào họ có thể. Họ đã quyết định chọn cái ít tệ hơn trong hai cái xấu: một sự kiểm soát lớn hơn của người Anh, hơn là sự sáp nhập bởi Rhodes. Với sự giúp đỡ của Hội Truyền giáo London, họ đã đi đến London để thử thuyết phục Nữ hoàng Victoria và Joseph Chamberlain, bộ trưởng thuộc địa khi đó, để có sự kiểm soát nhiều hơn đối với Bechuanaland và bảo vệ nó khỏi Rhodes.
Ngày 11 tháng Chín, 1895, họ đã có cuộc gặp đầu tiên với Chamberlain. Sebele nói đầu tiên, rồi đến Bathoen, và cuối cùng Khama. Chamberlain đã tuyên bố rằng ông sẽ xem xét việc áp đặt sự kiểm soát Anh để bảo vệ các bộ lạc khỏi Rhodes. Trong khi đó, các thủ lĩnh đã nhanh chóng bắt tay vào một tua nói chuyện khắp nước để đánh trống khua chiêng tìm kiếm sự ủng hộ cho các đòi hỏi của họ. Họ đã thăm và nói chuyện tại Windsor và Reading, gần London; tại Southampton ở duyên hải phía nam; và ở Leicester và Birmingham, tại cơ sở ủng hộ chính trị của Chamberlain, vùng Trung du. Họ đã đi lên miền bắc công nghiệp đến Yorkshire, Sheffield, Leeds, Halifax, và Bradford; họ cũng đã sang miền tây đến Bristol và rồi đến Manchester và Liverpool.
Trong khi đó, ở Nam Phi, Cecil Rhodes đã tiến hành công việc chuẩn bị cho cái trở thành cuộc Bố ráp Jameson thảm khốc, một cuộc tấn công vũ trang vào Cộng hòa Boer của Transvaal, bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của Chamberlain. Các sự kiện này chắc đã làm cho Chamberlain thông cảm hơn nhiều với cảnh ngộ của các thủ lĩnh, hơn là ông đã có thể nếu khác đi. Ngày 6 tháng Mười Một, họ lại gặp ông ở London. Các thủ lĩnh đã nói thông qua một người phiên dịch:
Chamberlain: Tôi sẽ nói về các cùng đất của các thủ lĩnh, và về đường sắt, và về luật mà phải được tôn trọng trong lãnh thổ của các thủ lĩnh … Bây giờ hãy nhìn vào bản đồ … Chúng tôi sẽ lấy đất mà chúng tôi muốn cho đường sắt, và không hơn.
Khama: Tôi nói, rằng nếu Ông Chamberlain sẽ đích thân lấy đất, tôi sẽ bằng lòng.
Chamberlain: Rồi hãy bảo ông rẳng tôi sẽ đính thân sai người làm đường sắt với con mắt của người tôi sẽ phái đến đó và tôi sẽ chỉ lấy ở mức mà tôi cần đến, và sẽ đền bù nếu cái tôi lấy có giá trị.
Khama: Tôi muốn biết đường sắt sẽ đi thế nào [tức là ở đâu].
Chamberlain: Nó sẽ đi qua lãnh thổ của ông nhưng sẽ được rào lại, và chúng tôi sẽ không lấy đất nào cả.
Khama: Tôi tin rằng ông sẽ làm việc này như cho bản thân tôi, và đối xử với tôi một cách công bằng về vấn đề này.
Chamberlain: Tôi sẽ bảo vệ các lợi ích của ông.
Ngày hôm sau, Edward Fairfield, tại Văn phòng Thuộc địa, đã giải thích sự dàn xếp của Chamberlain chi tiết hơn:
Mỗi trong ba thủ lĩnh, Khama, Sebele và Bathoen, sẽ có một nước mà bên trong đó họ sẽ sống như cho đến nay dưới sự che chở của Nữ Hoàng. Nữ Hoàng sẽ chỉ định một quan chức để cư trú ở đó với họ. Các thủ lĩnh sẽ cai trị nhân dân của chính họ hầu như như hiện nay.
Phản ứng của Rhodes với việc bị sự khôn khéo của ba thủ lĩnh Phi châu làm cho thất bại đã là có thể tiên đoán được. Ông đã đánh điện cho một trong các nhân viên của mình, than, “Tôi không thích bị đánh bởi ba người bản xứ ăn nói giả dối.”
Các thủ lĩnh thực ra đã có cái gì đó có giá trị mà họ bảo vệ khỏi Rhodes và sau đó sẽ bảo vệ khỏi sự cai trị gián tiếp của Anh. Vào thế kỷ thứ mười chín, các nhà nước Tswana đã phát triển một tập lõi của các thể chế chính trị. Những thể chế này đã bao hàm cả một mức độ khác thường, theo các tiêu chuẩn Phi châu hạ-Sahara, của sự tập trung hóa chính trị và các thủ tục ra quyết định tập thể mà thậm chí có thể coi như một dạng mới sinh, thô sơ của chủ nghĩa đa nguyên. Hệt như Magna Carta đã cho phép sự tham gia của các nam tước vào quá trình ra quyết định chính trị và đưa ra một số hạn chế lên các hành động của các quốc vương Anh, các thể chế chính trị của những người Tswana, đặc biệt là kgotla, cũng đã khuyến khích sự tham gia chính trị và hạn chế các thủ lĩnh. Nhà nhân loại học Nam Phi Isaac Schapera mô tả kgotla đã hoạt động thế nào như sau:
tất cả các vấn đề về chính sách bộ lạc được giải quyết cuối cùng trước một đại hội đồng của những người đàn ông trưởng thành trong kgotla (địa điểm hội đồng) của thủ lĩnh. Các cuộc họp như vậy được tổ chức rất thường xuyên … giữa các đề tài được thảo luận … có các tranh chấp bộ lạc, những sự cãi nhau giữa thủ lĩnh và họ hàng của ông, việc đánh các loại thuế mới, tiến hành các công trình công cộng mới, ban hành các sắc lệnh mới bởi thủ lĩnh … không phải là lạ đối với hội đồng bộ lạc để bác bỏ các ý muốn của thủ lĩnh. Vì bất cứ ai có thể nói, các cuộc họp này cho phép ông biết chắc các ý kiến của nhân dân nói chung, và tạo cho nhân dân một cơ hội để nói rõ những mối bất bình của họ. Nếu có cơ hội, ông và các cố vấn của ông có thể làm nhiệm vụ này một cách nghiêm túc, vì người dân ít khi sợ để nói công khai và thẳng thắn.
Vượt xa hơn kgotla, chức thủ lĩnh Tswana đã không mang tính cha truyền con nối nghiêm ngặt mà mở ra cho bất cứ người đàn ông nào chứng minh tài năng đáng kể và năng lực. Nhà nhân loại học John Comaroff đã nghiên cứu chi tiết lịch sử chính trị của một nhà nước Tswana khác, nhà nước Rolong. Ông đã chứng tỏ rằng mặc dù về bề ngoài những người Tswana đã có các quy tắc rõ ràng quy định chức thủ lĩnh được thừa kế ra sao, trong thực tiễn các quy tắc này được diễn giải để loại bỏ các nhà cai trị xấu và cho phép các ứng viên có tài để trở thành thủ lĩnh. Ông đã chứng tỏ rằng trúng chức thủ lĩnh đã là vấn đề thành tựu, nhưng khi đó đã được hợp lý hóa sao cho đối thủ cạnh tranh thành công tỏ ra là người thừa kế hợp pháp. Những người Tswana đã thâu tóm ý tưởng này với một tục ngữ, với một nét thoáng của nền quân chủ lập hiến: kgosi ke kgosi ka morafe, “Vua là vua bởi ân huệ của nhân dân.”
Các thủ lĩnh Tswana đã tiếp tục các nỗ lực để duy trì sự độc lập của họ với Anh và bảo tồn các thể chế bản xứ của họ sau chuyến đi đến London. Họ đã nhường cho việc xây dựng đường sắt ở Bechuanaland, nhưng đã hạn chế sự can thiệp của người Anh trong các khía cạnh khác của đời sống kinh tế và chính trị. Họ đã không phản đối việc xây dựng đường sắt, chắc chắn không vì cùng các lý do như các quốc vương Áo-Hungary và Nga đã ngăn chặn đường sắt. Họ chỉ đã nhận ra rằng đường sắt, giống các chính sách khác của người Anh, sẽ không mang lại sự phát triển cho Bechuanaland chừng nào nó còn dưới sự kiểm soát thuộc địa. Kinh nghiệm ban đầu của Quett Masire, Tổng thống từ năm 1980 đến 1998 của Botswana độc lập, giải thích vì sao. Masire đã là một nông dân kinh doanh trong các năm 1950; ông đã phát triển những kỹ thuật mới cho việc trồng lúa miến và đã tìm được một khách hàng tiềm năng ở Vryburg Milling, một công ty đóng ở bên kia biên giới bên Nam Phi. Ông đã đến trưởng ga xe lửa tại Lobatse ở Bechuanaland và hỏi thuê hai toa xe để chuyển hàng của ông đến Vryburg. Trưởng ga đã từ chối. Rồi ông nhờ một người bạn da trắng can thiệp. Trưởng ga miễn cưỡng đồng ý, nhưng chào giá cho Masire cao gấp bốn lần giá cho những người da trắng. Masire đã bỏ cuộc và kết luận, “Đã là tập quán của những người da trắng, không chỉ các luật cấm những người Phi châu sở hữu đất vô thời hạn hay có được các giấy phép buôn bán mà đã không để những người da đen phát triển các doanh nghiệp ở Bechuanaland.”
Xét cho cùng, các thủ lĩnh, và nhân dân Tswana, đã may mắn. Có lẽ bất chấp mọi khó khăn bất lợi, họ đã thành công ngăn chặn sự thôn tính của Rhodes. Vì Bechuanaland đã vẫn không đáng kể đối với người Anh, việc thiết lập sự cai trị gián tiếp đã không tạo ra kiểu vòng luẩn quẩn diễn ra ở Sierra Leone (trang 335-344). Họ cũng đã tránh được loại mở rộng thuộc địa mà đã tiếp diễn ở nội địa của Nam Phi mà biến những vùng đất đó thành các nguồn lao động rẻ mạt cho các nhà khai mỏ hay chủ trang trại da trắng. Các giai đoạn ban đầu của quá trình thuộc địa hóa là một bước ngoặt cho hầu hết các xã hội, một thời kỳ quyết định mà trong thời gian đó diễn ra các sự kiện có những hệ quả dài hạn quan trọng cho sự phát triển kinh tế và chính trị của chúng. Như chúng ta đã thảo luận ở chương 9, hầu hết các xã hội ở châu Phi hạ-Sahara, hệt như các xã hội ở Nam Mỹ và nam Á, đã chứng kiến sự thiết lập hay sự tăng cường của các thể chế khai thác trong thời kỳ thuộc địa hóa. Những người Tswana thay vào đó đã tránh được cả sự cai trị gián tiếp mạnh và số phận tồi tệ hơn nhiều mà đã có thể xảy ra đối với họ giả như Rhodes đã thành công sáp nhập đất đai của họ. Đấy, tuy vậy, đã không đơn thuần là sự may rủi mù quáng. Lần nữa nó đã là kết quả của sự tác động qua lại giữa các thể chế hiện tồn, được định hình bởi sự trôi dạt thể chế của nhân dân Tswana, và bước ngoặt do chủ nghĩa thực dân gây ra. Ba thủ lĩnh đã tạo ra sự may mắn của chính họ bằng cách đưa ra sáng kiến và đi đến London, và họ đã có khả năng làm việc này bởi vì họ đã có một mức độ khác thường về quyền hạn, so với các lãnh tụ bộ lạc khác ở châu Phi hạ-Sahara, nhờ sự tập trung hóa chính trị mà các bộ lạc Tswana đã đạt được, và có lẽ họ cũng đã có một mức độ khác thường của tính hợp pháp chính đáng, bởi vì chút ít chủ nghĩa đa nguyên đã được cấy trong các thể chế bộ lạc của họ.
Một bước ngoặt khác vào lúc kết thúc thời kỳ thuộc địa có tính quyết định hơn đối với thành công của Botswana, cho phép nó phát triển các thể chế bao gồm. Vào lúc Bechuanaland trở thành độc lập năm 1966 dưới cái tên Botswana, thành công may mắn của các thủ lĩnh Sebele, Bathoen, và Khama đã là lâu trong quá khứ. Trong các năm ở giữa, những người Anh đã đầu tư ít ở Bechuanaland. Vào lúc độc lập, Botswana đã là một trong những nước nghèo nhất thế giới; nó đã có tổng cộng mười hai kilomet đường được trải bề mặt, hai mươi hai công dân tốt nghiệp đại học, và một trăm người tốt nghiệp cấp hai. Và tồi tệ nhất là, nó đã hầu như hoàn toàn bị bao vây bởi các chế độ da trắng của Nam Phi, Namibia, và Rhodesia, tất cả chúng đã đều thù địch với các nước Phi châu độc lập do những người da đen quản lý. Nó đã ở trong danh sách của ít người về các nước chắc có khả năng thành công. Thế nhưng trong hai mươi lăm năm tiếp theo, Botswana đã trở thành một trong những nước tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới. Ngày nay Botswana có thu nhập đầu người cao nhất ở châu Phi hạ-Sahara, và ở cùng mức như các nước Đông Âu thành công như Estonia và Hungary, và các quốc gia Mỹ Latin thành công nhất, như Costa Rica.
Botswana đã phá vỡ khuôn đúc như thế nào? Bằng cách phát triển nhanh các thể chế kinh tế và chính trị bao gồm sau độc lập. Kể từ đó, nó đã là dân chủ, tổ chức các cuộc bầu cử đều đặn và cạnh tranh, và đã chẳng bao giờ trải qua nội chiến hay sự can thiệp quân sự. Chính phủ đã dựng lên các thể chế kinh tế thực thi các quyền tài sản, bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô, và khuyến khích sự phát triển của một nền kinh tế thị trường bao gồm. Nhưng tất nhiên, câu hỏi thách thức hơn là, Botswana đã làm thế nào để tìm được cách thiết lập một nền dân chủ ổn định và các thể chế đa nguyên, và chọn được các thể chế kinh tế bao gồm, trong khi hầu hết các nước Phi châu khác đã làm ngược lại? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải hiểu một bước ngoặt, lần này là sự chấm dứt của sự cai trị thực dân, đã tương tác thế nào với các thể chế hiện tồn của Botswana.
Trong hầu hết châu Phi hạ-Sahara – chẳng hạn, Sierra Leone và Zimbabwe – sự độc lập đã là một cơ hội bị bỏ lỡ, đã đi cùng với sự tái-tạo cùng kiểu các thể chế khai thác mà đã tồn tại trong thời kỳ thuộc địa. Các giai đoạn ban đầu của sự độc lập diễn ra rất khác ở Botswana, lẫn nữa chủ yếu bởi vì cái nền do các thể chế lịch sử Tswana tạo ra. Về khía cạnh này, Botswana thể hiện nhiều sự tương tự với nước Anh gần đến Cách mạng Vinh quang. Nước Anh đã có sự tập trung hóa chính trị nhanh chóng dưới thời nhà Tudor và đã có Magna Carta và một truyền thống Nghị viện mà chí ít đã có thể mong mỏi để kiềm chế các quốc vương và bảo đảm mức độ nào đó của chủ nghĩa đa nguyên. Botswana cũng đã có mức độ nào đó của sự tập trung hóa nhà nước và các thể chế bộ lạc đa nguyên một cách tương đối mà đã sống sót qua được chủ nghĩa thực dân. Nước Anh đã có một liên minh rộng mới hình thành, gồm có các nhà buôn Đại Tây Dương, các nhà công nghiệp, và giới quý tộc nhỏ (gentry) có đầu óc thương mại, mà đã ủng hộ các quyền tài sản được thực thi nghiêm. Botswana đã có liên minh của mình ủng hộ các quyền thủ tục an toàn, các thủ lĩnh Tswana, và các elite những người đã sở hữu các tài sản chính trong nền kinh tế, gia súc. Cho dù đất đã là chung của cộng đồng, gia súc đã là tài sản tư nhân trong các nhà nước Tswana, và tương tự các elite đã ủng hộ các quyền tài sản được thực thi nghiêm. Tất cả những thứ này tất nhiên không từ chối con đường tùy thuộc ngẫu nhiên của lịch sử. Tình hình đã hóa ra rất khác ở nước Anh nếu giả như các lãnh đạo quốc hội và quốc vương mới đã thử sử dụng Cách mạng Vinh quang để chiếm đoạt quyền lực. Tương tự, tình hình đã có thể hóa ra rất khác ở Botswana, đặc biệt nếu giả như nó đã không may như vậy để có các nhà lãnh đạo như Seretse Khama, hay Quett Masire, những người đã quyết định tranh đua trong các cuộc bầu cử để nắm quyền hơn là phá vỡ hệ thống bầu cử, như nhiều lãnh tụ sau độc lập ở châu Phi hạ-Sahara đã làm.
Vào lúc độc lập những người Tswana đã nổi lên với một lịch sử của các thể chế coi là linh thiêng chức thủ lĩnh hạn chế và mức độ nào đó của trách nhiệm giải trình của các thủ lĩnh đối với nhân dân. Những người Tswana tất nhiên đã không là độc nhất ở châu Phi vì có các thể chế giống như thế này, nhưng họ đã là độc nhất trong chừng mực mà các thể chế này đã sống sót qua được thời kỳ thuộc địa mà không bị tổn thương. Sự cai trị Anh đã hầu như thiếu vắng. Bechuanaland đã được quản lý từ Mafeking, ở Nam Phi, và chỉ trong thời gian quá độ đến độc lập trong các năm 1960 thì các kế hoạch cho thủ đô Gaborone mới được vạch ra. Thủ đô và các cấu trúc mới ở đó đã không có ý định để xóa các thể chế bản xứ, mà để xây dựng trên chúng; khi Gaborone được xây dựng, các kgotla mới được lên kế hoạch cùng với nó.
Độc lập cũng đã là chuyện tương đối trật tự. Cuộc vận động cho độc lập đã được lãnh đạo bởi Đảng Dân chủ Botswana (BDP), được thành lập năm 1960 bởi Quett Masire và Seretse Khama. Khama đã là cháu của Vua Khama III; tên của ông, Seretse, có nghĩa “đất sét mà kết dính với nhau.” Nó đã là một cái tên đặc biệt thích hợp. Khama đã là thủ lĩnh thừa kế của người Ngwato, và hầu hết các thủ lĩnh Tswana và các elite đã gia nhập Đảng Dân chủ Botswana. Botswana đã không có một hội đồng marketing, bởi vì những người Anh đã rất không quan tâm đến thuộc địa này. BDP đã nhanh chóng dựng lên một hội đồng trong năm 1967, Ủy Ban Thịt Botswana. Nhưng thay cho việc tước đoạt các chủ trại nuôi súc vật và các chủ sở hữu súc vật, Ủy Ban Thịt đã đóng một vai trò chính trong phát triển nền kinh tế chăn nuôi gia súc; nó đã dựng lên các hàng rào để kiểm soát bệnh lở mồm long móng và thúc đẩy xuất khẩu, mà cả đóng góp cho sự phát triển kinh tế và làm tăng sự ủng hộ cho các thể chế kinh tế bao gồm.
Mặc dù sự tăng trưởng ban đầu ở Botswana đã dựa trên xuất khẩu thịt, tình hình đã thay đổi đột ngột khi kim cương được phát hiện ra. Việc quản lý các tài nguyên thiên nhiên ở Botswana cũng đã khác một cách rõ rệt với việc quản lý ở các quốc gia Phi châu khác. Trong thời kỳ thuộc địa, các thủ lĩnh Tswana đã thử ngăn chặn thăm dò khoáng sản ở Bechuanaland bởi vì họ đã biết rằng nếu những người Âu châu khám phá ra các kim loại hay đá quý, thì sự tự trị của họ sẽ không còn. Sự phát hiện lớn đầu tiên thấy kim cương đã ở dưới lòng đất Ngwato, quê hương truyền thống của Seretse Khama. Trước khi sự phát hiện được công bố, Khama đã xúi giục một sự thay đổi về luật sao cho tất cả các quyền khoáng sản dưới đất thuộc về quốc gia, chứ không thuộc về bộ lạc. Việc này bảo đảm rằng của cải kim cương sẽ không tạo ra những sự bất bình đẳng lớn ở Botswana. Nó cũng đã tạo thêm sự thúc đẩy quá trình tập trung hóa nhà nước vì các nguồn thu kim cương bây giờ có thể được dùng cho việc xây dựng một bộ máy nhà nước và hạ tầng cơ sở và đầu tư vào giáo dục. Ở Sierra Leone và nhiều quốc gia Phi châu hạ-Sahara khác, kim cương đã kích động, đã cấp nhiên liệu cho xung đột giữa các nhóm khác nhau và đã giúp duy trì các cuộc nội chiến, có được nhãn Kim cương Đẫm Máu vì sự tàn sát do các cuộc chiến tranh để giành quyền kiểm soát kim cương. Ở Botswana, các nguồn thu kim cương đã được quản lý cho lợi ích của quốc gia.
Sự thay đổi về các quyền khoáng sản dưới đất đã không chỉ là chính sách duy nhất của việc xây dựng nhà nước mà chính phủ Seretse Khama đã thực hiện. Cuối cùng Đạo luật Chức thủ lĩnh năm 1965 đã được hội đồng lập pháp thông qua trước khi độc lập, và Đạo Luật sửa đổi luật Chức thủ lĩnh năm 1970 đã tiếp tục quá trình tập trung hóa chính trị, tôn thờ quyền lực nhà nước và Tổng thống được bầu bằng cách bãi bỏ quyền phân bổ đất của các thủ lĩnh và cho phép Tổng thống loại bỏ một thủ lĩnh khỏi chức nếu cần thiết. Một mặt khác nữa của sự tập trung hóa chính trị đã là nỗ lực để thống nhất đất nước hơn nữa, thí dụ, với luật pháp bảo đảm rằng chỉ tiếng Setswana và tiếng Anh được dạy ở trường. Ngày nay Botswana trông giống một nước thuần nhất, không có sự chắp vá sắc tộc và ngôn ngữ như ở nhiều quốc gia Phi châu khác. Nhưng đấy là một kết quả của chính sách để có chỉ tiếng Anh và một ngôn ngữ dân tộc duy nhất, tiếng Setswana, được dạy ở trường để tối thiểu hóa xung đột giữa các bộ lạc và các nhóm khác nhau bên trong xã hội. Tổng điều tra dân số cuối cùng đưa ra các câu hỏi về sắc tộc đã là cuộc điều tra được tiến hành năm 1946, mà đã tiết lộ tính không đồng nhất đáng kể ở Botswana. Trong khu bản địa Ngwato, chẳng hạn, chỉ 20 phần trăm dân cư tự nhận diện mình như người Ngwato thuần khiết; mặc dù đã có các bộ lạc Tswana khác hiện diện, đã cũng có nhiều nhóm không-Tswana mà ngôn ngữ đầu tiên của họ đã không là tiếng Setswana. Tính không đồng đều cơ bản này đã bị biến điệu đi bởi cả các chính sách của chính phủ sau độc lập và bởi các thể chế bao gồm tương đối của các bộ lạc Tswana theo cùng cách như tính không đồng đều ở Vương quốc Anh, chẳng hạn, giữa những người Anh và những người Welsh, đã bị biến điệu bởi nhà nước vương quốc Anh. Nhà nước Botswana đã làm cùng như thế. Từ khi độc lập, tổng điều tra dân số ở Botswana đã chẳng bao giờ hỏi về sắc tộc nữa, bởi vì ở Botswana mọi người đều là người Tswana.
Botswana đã đạt tốc độ tăng trưởng xuất sắc sau độc lập bởi vì Seretse Khama, Quett Masire, và Đảng Dân chủ Botswana đã lãnh đạo Botswana đi lên con đường của các thể chế kinh tế và chính trị bao gồm. Khi các mỏ kim cương đi vào hoạt động trong các năm 1970, chúng đã không dẫn đến nội chiến, mà đã cung cấp một cơ sở tài khóa mạnh cho chính phủ sử dụng các nguồn thu này để đầu tư vào các dịch vụ công. Đã có rất ít khuyến khích để thách thức hay lật đổ chính phủ và nắm quyền kiểm soát nhà nước. Các thể chế chính trị bao gồm đã sản sinh ra sự ổn định chính trị và đã ủng hộ các thể chế kinh tế bao gồm. Theo một hình mẫu quen thuộc từ vòng thiện được mô tả trong chương 11, các thể chế kinh tế bao gồm đã làm tăng khả năng đứng vững và tính lâu bền của các thể chế chính trị bao gồm.
Botswana đã phá vỡ khuôn đúc bởi vì nó đã có khả năng nắm lấy bước ngoặt, sự độc lập hậu thuộc địa, và dựng lên các thể chế bao gồm. Đảng Dân chủ Botswana và các elite truyền thống, kể cả bản thân Khama, đã không thử tạo ra một chế độ độc tài hay dựng lên các thể chế khai thác mà đã có thể làm giàu cho chính họ với cái giá của toàn xã hội phải trả. Đấy một lần nữa đã là kết quả của sự tương tác giữa một bước ngoặt và các thể chế hiện tồn. Như chúng ta đã thấy, khác với hầu hết nơi khác ở châu Phi hạ-Sahara, Botswana đã có rồi các thể chế bộ lạc mà đã đạt mức độ nào đó của quyền lực tập trung và đã chứa các đặc tính đa nguyên quan trọng. Hơn nữa, nước này đã có các elite kinh tế những người bản thân họ đã có nhiều để được từ các quyền tài sản an toàn.
Không ít quan trọng hơn là, con đường tùy thuộc ngẫu nhiên của lịch sử đã ưu ái Botswana. Nó đã hết sức may bởi vì Seretse Khama và Quett Masire đã không phải là Siaka Stevens và Robert Mugabe. Họ đã làm việc siêng năng và chân thật để xây dựng các thể chế bao gồm dựa trên nền tảng của các thể chế bộ lạc của những người Tswana. Tất cả những thứ này đã làm cho có khả năng hơn rằng Botswana sẽ thành công đi con đường hướng tới các thể chế bao gồm, trong khi phần lớn phần còn lại của châu Phi hạ-Sahara đã thậm chí không thử đi, hay đã thất bại hoàn toàn.
KẾT THÚC SỰ BÓC LỘT Ở MIỀN NAM
Đó là ngày 1 tháng Mười Hai, 1955. Thành phố Montgomery, Alabama, lệnh bắt ghi thời gian xảy ra sự phạm tội là 6 giờ 06 phút chiều. James Blake, một lái xe bus, đã gặp rắc rối, ông đã gọi cảnh sát, và Officers Day và Mixon đã đến hiện trường. Họ đã ghi trong báo cáo của họ:
Chúng tôi đã nhận được một cuộc gọi đến người điều hành xe bus nói [xe] ông ta có một phụ nữ da màu ngồi ở khu vực dành cho người da trắng của xe bus, và không muốn quay về [khu vực cho người da đen]. Chúng tôi … cũng đã nhìn thấy cô ta. Người điều hành xe bus đã ký một trát cho cô ta. Rosa Parks (cf) bị buộc tội theo khoản 11 chương 6 của Điều lệ Thành phố Montgomery.
Rosa Parks đã phạm tội ngồi ở một khu vực của xe bus Cleveland Avenue được dành riêng cho những người da trắng, một tội dưới các luật Jim Crow của Alabama. Parks đã bị phạt mười dollar ngoài phí tòa án bốn dollar. Rosa Parks đã không phải là bất cứ ai. Cô đã là thư ký rồi của chi hội Montgomery của Hội Quốc gia cho sự Tiến bộ của những người Da Màu (National Association for the Advancement of Colored People, NAACP), mà từ lâu đã đấu tranh đòi thay đổi các thể chế của miền Nam Hoa Kỳ. Việc bắt cô đã kích động một phong trào quần chúng, phong trào Tẩy chay xe Bus Montgomery, được đạo diễn bởi Martin Luther King, Jr. Vào ngày 3 tháng Mười Hai, King và các lãnh tụ da đen đã tổ chức một cuộc tẩy chay xe bus được phối hợp, thuyết phục tất cả những người da đen rằng họ không nên đi bất cứ xe bus nào ở Montgomery. Cuộc tẩy chay đã thành công và nó đã kéo dài đến 20 tháng Mười Hai, 1956. Nó đã khởi động một quá trình mà đã lên đỉnh điểm trong quyết định của Tòa án Tối cao rằng các luật mà đã tách biệt các xe bus ở Alabama và Montgomery là vi hiến.
Cuộc Tẩy chay xe Bus Montgomery đã là một thời điểm mấu chốt trong phong trào các quyền dân sự ở miền Nam Hoa Kỳ. Phong trào này đã là phần của một chuỗi các sự kiện và những thay đổi mà cuối cùng đã phá vỡ khuôn đúc ở miền Nam và đã dẫn đến những thay đổi cơ bản của các thể chế. Như chúng ta đã thấy ở chương 12, sau Nội Chiến, các elite sở hữu đất ở miền nam đã tìm được cách để tái tạo các thể chế kinh tế và chính trị khai thác mà đã chi phối miền Nam trước Nội Chiến. Mặc dù các chi tiết của các thể chế này đã thay đổi – thí dụ, tình trạng nô lệ đã không còn có thể nữa – tác động tiêu cực lên các khuyến khích kinh tế và sự thịnh vượng ở miền Nam vẫn như thế. Miền Nam đã nghèo hơn một cách đáng kể so với phần còn lại của Hoa Kỳ.
Bắt đầu trong các năm 1950, các thể chế miền nam đã bắt đầu đưa khu vực này lên một quỹ đạo tăng trưởng nhanh hơn nhiều. Kiểu của các thể chế khai thác cuối cùng đã bị loại bỏ ở miền Nam Hoa Kỳ đã khác với các thể chế thuộc địa của Botswana trước độc lập. Kiểu của bước ngoặt mà đã khởi động quá trình của sự sụp đổ của chúng đã cũng khác nhau nhưng chia sẻ nhiều đặc điểm chung. Bắt đầu trong các năm 1940, những người mà đã chịu tác động của sự phân biệt và các thể chế khai thác ở miền Nam, những người như Rosa Parks, đã trở nên được tổ chức tốt hơn nhiều trong cuộc đấu tranh chống lại chúng. Đồng thời, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ và chính phủ liên bang cuối cùng đã bắt đầu can thiệp một cách có hệ thống để cải cách các thể chế khai thác ở miền Nam. Như thế một nhân tố chính tạo ra một bước ngoặt cho sự thay đổi ở miền Nam đã là sự trao quyền cho những người Mỹ da đen ở đó và sự kết thúc của sự cai trị không bị thách thức của các elite miền Nam.
Các thể chế chính trị miền nam, cả trước và sau Nội Chiến, đã có một logic kinh tế rõ ràng, không quá khác với chế độ Apartheid Nam Phi: để bảo đảm lao động rẻ mạt cho các đồn điền. Nhưng vào các năm 1950, logic này trở nên ít hấp dẫn hơn. Một mặt, khối lượng lớn người da đen di cư ra khỏi miền Nam đã đang diễn ra, một di sản của cả Đại Suy Thoái và Chiến tranh Thế giới lần thứ Hai. Trong các năm 1940 và 1950, việc di cư này đã đạt trung bình một trăm ngàn người một năm. Trong khi đó, đổi mới công nghệ trong nông nghiệp, tuy chỉ được chấp nhận chậm chạp, đã làm giảm sự phụ thuộc của các chủ đồn điền vào lao động rẻ. Hầu hết lao động trong các đồn điền đã được dùng để hái bông. Trong năm 1950 hầu như tất cả bông miền nam đã vẫn được hái bằng tay. Nhưng việc cơ giới hóa hái bông đã làm giảm cầu đối với kiểu công việc này. Vào năm 1960, trong các bang chủ chốt Alabama, Louisiana, và Mississippi, hầu như một nửa sản xuất đã được cơ giới hóa. Hệt như những người da đen đã trở nên khó hơn để bị bẫy ở miền Nam, họ cũng đã trở nên không còn là không thể thiếu đối với các chủ đồn điền. Như thế đã có ít lý do cho các elite để chiến đấu quyết liệt nhằm duy trì các thể chế kinh tế khai thác cũ kỹ. Điều này, tuy vậy, đã không có nghĩa rằng họ vui lòng chấp nhận những thay đổi về thể chế. Thay vào đó, một cuộc xung đột kéo dài đã xảy ra sau đó. Một liên minh khác thường, giữa những người da đen miền nam và các thể chế liên bang bao gồm của Hoa Kỳ, đã tạo ra một lực hùng mạnh kéo ra khỏi sự khai thác miền nam và hướng đến các quyền chính trị và dân sự bình đẳng cho những người da đen miền nam, mà cuối cùng đã dỡ bỏ các rào cản đáng kể đối với sự tăng trưởng kinh tế ở miền Nam Hoa Kỳ.
Sự thúc đẩy quan trọng nhất cho sự thay đổi đã đến từ phong trào các quyền dân sự. Nó đã trao quyền cho những người da đen ở miền Nam mà đã đi đầu, như ở Montgomery, bằng cách thách thức các thể chế khai thác xung quanh họ, bằng cách đòi các quyền của họ, và bằng cách phản đối và huy động [quần chúng] nhằm đạt được chúng. Nhưng họ đã không đơn độc trong việc này, bởi vì miền Nam Hoa Kỳ đã không là một nước tách biệt và các elite miền Nam đã không có sự kiểm soát tự do, chẳng hạn như các elite Guatemala đã có. Như một phần của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, miền Nam đã phải tuân thủ Hiến pháp Hoa Kỳ và luật pháp liên bang. Sự nghiệp cho cải cách cơ bản ở miền Nam cuối cùng đã nhận được sự ủng hộ từ hành pháp, lập pháp và Tòa án Tối cao Hoa Kỳ một phần bởi vì phong trào các quyền dân sự đã có khả năng khiến cho tiếng nói của nó được lắng nghe ở bên ngoài miền Nam, và vì thế huy động được chính phủ liên bang.
Sự can thiệp liên bang để thay đổi các thể chế ở miền Nam đã bắt đầu với quyết định của Tòa án Tối cao trong năm 1944 rằng các cuộc bầu cử sơ bộ nơi chỉ có những người da trắng đã có thể ra ứng cử là vi hiến. Như chúng ta đã thấy, những người da đen đã bị tước quyền bầu cử chính trị trong các năm 1890 với việc sử dụng thuế thân và kiểm tra biết đọc biết viết (trang 351-357). Các việc kiểm tra này đã thường bị thao tác để phân biệt đối xử chống những người da đen, trong khi vẫn cho phép những người da trắng nghèo và mù chữ bầu cử. Trong một thí dụ nổi tiếng từ đầu các năm 1960, tại Louisiana một nguyên cáo da trắng được phán là biết đọc biết viết sau khi cho câu trả lời “FRDUM FOOF SPETGH – QUÊN SỰ ĐO NGÔNG NUẬN” cho một câu hỏi về hiến pháp bang. Quyết định của Tòa án Tối cao năm 1944 đã là một loạt đạn mở đầu trong cuộc đấu tranh dài hơn để mở cửa hệ thống chính trị cho những người da đen, và Tòa án đã hiểu tầm quan trọng của việc nới lỏng sự kiểm soát của người da trắng đối với các đảng chính trị.
Quyết định đó đã được tiếp theo bởi vụ kiện Brown đối lại Hội đồng Giáo dục năm 1954, trong đó Tòa án Tối cao đã phán quyết rằng việc các bang tách riêng các trường học và các địa điểm công cộng khác đã là vi hiến. Trong năm 1962 Tòa án đã đập tan cột trụ khác nữa của sự thống trị chính trị của các elite gia trắng: sự chia lô sai về lập pháp. Khi một cơ quan lập pháp bị chia lô sai (malapportioned) – như “các thành phố thối nát” ở nước Anh trước Đạo luật Cải cách thứ Nhất – một số vùng hay khu vực nhận được sự đại diện lớn hơn nhiều so với mức dựa trên phần của chúng về dân số liên quan. Sự phân lô sai ở miền Nam đã có nghĩa rằng các vùng nông thôn, trung tâm của elite đồn điền miền Nam, đã được đại diện quá đáng so với các vùng đô thị. Tòa án Tối cao đã chấm dứt tình trạng này năm 1962 với quyết định của nó trong vụ kiện Baker đối lại Carr, mà đã đưa vào tiêu chuẩn “một-cá-nhân, một-phiếu.”.
Nhưng tất cả các phán quyết từ Tòa án Tối cao đã ít có ý nghĩa nếu chúng không được thực thi. Trong các năm 1890, thực ra, việc pháp luật liên bang trao quyền bầu cử cho những người da đen miền nam đã không được thực hiện, bởi vì việc thực thi pháp luật ở địa phương đã nằm dưới quyền kiểm soát của elite miền nam và Đảng Dân chủ, và chính phủ liên bang đã vui lòng để tiếp tục với tình trạng này. Nhưng khi những người da đen bắt đầu đứng lên chống elite miền nam, pháo đài này của sự ủng hộ cho Jim Crow đã sụp đổ, và Đảng Dân chủ, được lãnh đạo bởi các yếu tố phi-niềm nam, đã quay sang chống sự tách biệt chủng tộc. Các đảng viên Dân chủ miền nam phản bội đã tập hợp lại dưới ngọn cờ của States’ Rights Democratic Party (Đảng Dân chủ giữ các Quyền của các Bang) và đã cạnh tranh trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1948. Ứng viên của họ, Strom Thurmond, đã thắng bốn bang và đã thu được ba mươi chín phiếu trong Đại hội Cử tri. Nhưng đấy đã rất xa lạ với sức mạnh của Đảng Dân chủ thống nhất trong chính trị quốc gia và phần giành được của các elite miền nam trong đảng đó. Chiến dịch của Strom Thurmond đã tập trung vào thách thức của ông ta đối với khả năng của chính phủ liên bang để can thiệp vào các thể chế của miền Nam. Ông đã tuyên bố lập trường của mình một cách mạnh mẽ: “Tôi muốn nói với các vị, các quý bà và các quý ông, rằng không có đủ binh lính trong quân đội để buộc nhân dân miền nam xóa bỏ sự tách riêng và nhận chủng tộc da đen vào các nhà hát của chúng ta, vào các bể bơi của chúng ta, vào nhà của chúng ta, và vào các nhà thờ của chúng ta.”
Hóa ra ông đã sai. Các phán quyết của Tòa án Tối cao đã có nghĩa rằng các cơ sở giáo dục miền nam đã phải bỏ sự tách riêng, kể cả Đại học Mississippi ở Oxford. Năm 1962, sau một cuộc chiến pháp lý dài, các tòa án liên bang đã phán quyết rằng James Meredith, một cựu binh không quân da đen, phải được nhận vào “Ole Miss [Đại học Mississippi].” Sự phản đối việc thực hiện phán quyết này đã được phối hợp bởi cái gọi là các Hội đồng Công dân, mà hội đồng đầu tiên đã được thành lập ở Indianola, Mississippi, năm 1954 để chống lại việc phá bỏ sự tách riêng của miền Nam. Thống đốc Bang Ross Barnett đã từ chối công khai sự dỡ bỏ tách riêng do tòa án ra lệnh trên truyền hình ngày 13 tháng Chín, tuyên bố rằng các đại học bang sẽ đóng cửa trước khi họ đồng ý dỡ bỏ sự tách riêng. Cuối cùng, sau nhiều thương lượng giữa Barnett và Tổng thống John Kennedy và Tổng Chưởng lý Robert Kennedy ở Washington, chính phủ liên bang đã can thiệp bằng vũ lực để thực hiện phán quyết này. Một ngày được định khi các cảnh sát trưởng sẽ đưa Meredith đến Oxford. Lường trước, những kẻ coi dân da trắng là tối cao đã bắt đầu tổ chức. Ngày 30 tháng Chín, một ngày trước khi Meredith đến hạn phải có mặt, các cảnh sát trưởng Hoa Kỳ đã tiến vào khu trường đại học và đã bao quanh tòa nhà hành chính chủ yếu. Một đám đông khoảng 2.500 đã đến để phản đối, và không lâu sau một cuộc nổi loạn đã nổ ra. Các cảnh sát trưởng đã sử dụng hơi cay để giải tán những người nổi loạn, nhưng không lâu sau họ đã ở dưới làn đạn. Vào 10:00 giờ đêm hôm đó, các binh lính liên bang tiến vào thành phố để khôi phục trật tự. Không bao lâu đã có 20.000 lính và 11.000 Vệ binh Quốc gia ở Oxford. Tổng cộng, 300 người đã bị bắt. Meredith đã quyết định ở lại trường, nơi được các cảnh sát trưởng Hoa Kỳ và 300 lính bảo vệ khỏi các mối đe dọa chết người, cuối cùng ông đã tốt nghiệp.
Luật pháp liên bang đã là mấu chốt trong quá trình cải cách thể chế ở miền Nam. Trong thời gian thông qua Đạo luật các Quyền Dân sự thứ nhất trong năm 1957, Strom Thurmond, khi đó là một thượng nghị sĩ, đã nói liên tục suốt hai mươi bốn giờ và mười tám phút để ngăn cản, hay chí ít để làm chậm, việc thông qua đạo luật. Trong lúc phát biểu ông đã đọc mọi thứ từ Tuyên ngôn Độc lập đến các cuốn danh bạ điện thoại khác nhau. Nhưng vô ích. Đạo luật 1957 đã lên đỉnh điểm trong Đạo luật các Quyền Dân sự năm 1964 đặt ra ngoài vòng pháp luật toàn bộ luật pháp và sự thực hành mang tính tách riêng của các bang. Đạo luật các Quyền Bầu cử năm 1965 đã tuyên bố các trắc nghiệm biết đọc biết viết, các loại thuế thân, và các phương pháp khác được dùng để tước đoạt quyền bầu cử của những người da đen miền nam là bất hợp pháp. Nó cũng đã mở rộng rất nhiều sự giám sát liên bang vào các cuộc bầu cử bang.
Tác động của tất cả những sự kiện này đã là một sự thay đổi đáng kể về các thể chế kinh tế và pháp lý ở miền Nam. Tại Mississippi, chẳng hạn, chỉ khoảng 5 phần trăm những người da đen đủ tư cách đã bầu trong năm 1960. Vào năm 1970 con số này đã tăng lên 50 phần trăm. Tại Alabama và Nam Carolina, nó đã tăng từ khoảng 10 phần trăm năm 1960 lên 50 phần trăm năm 1970. Các hình mẫu này đã làm thay đổi bản chất của các cuộc bầu cử, cả cho các chức vụ địa phương và quốc gia. Quan trọng hơn, sự ủng hộ chính trị từ Đảng Dân chủ chiếm ưu thế cho các thể chế khai thác phân biệt chống lại những người da đen đã bị xói mòn. Con đường đã mở ra cho một loạt những thay đổi về các thể chế kinh tế. Trước các cuộc cải cách thể chế của những năm 1960, những người da đen đã hầu như bị loại trừ khỏi các việc làm trong các nhà máy dệt. Trong năm 1960 chỉ khoảng 5 phần trăm nhân viên trong các nhà máy dệt miền nam đã là người da đen. Luật các Quyền Dân sự đã chấm dứt sự phân biệt này. Vào năm 1970 tỷ lệ này đã tăng lên 15 phần trăm; vào năm 1990 nó đã là 25 phần trăm. Sự phân biệt đối xử kinh tế chống lại những người da đen đã bắt đầu giảm đi, các cơ hội giáo dục cho những người da đen đã được cải thiện đáng kể, và thị trường lao động miền Nam đã trở nên cạnh tranh hơn. Cùng với các thể chế bao gồm những sự cải thiện kinh tế đã đến nhanh hơn ở miền Nam. Trong nă 1940 các bang miền nam đã chỉ có mức thu nhập bằng khoảng 50 phần trăm của mức thu nhập đầu người của Hoa Kỳ. Tình hình này đã bắt đầu thay đổi trong cuối các năm 1940 và các năm 1950. Vào năm 1990 khoảng cách này đã cơ bản biến mất.
Như ở Botswana, chìa khóa ở miền Nam Hoa Kỳ đã là sự phát triển của các thể chế chính trị và kinh tế bao gồm. Điều này đạt được bằng đặt cạnh nhau sự bất mãn ngày càng tăng giữa những người da đen chịu đau khổ dưới các thể chế khai thác miền nam và sự tan rã của sự cai trị độc đảng của Đảng Dân chủ ở miền Nam. Lại một lần nữa, các thể chế hiện tồn đã định hình con đường thay đổi. Trong trường hợp này, đã là mấu chốt rằng các thể chế miền nam ở bên trong các thể chế liên bang bao gồm của Hoa Kỳ, và điều này cuối cùng đã cho phép những người da đen miền nam để huy động chính phủ và các thể chế liên bang cho sự nghiệp của họ. Toàn bộ quá trình đã cũng được làm cho dễ hơn bởi sự thực rằng, với sự di cư ồ ạt của những người da đen ra khỏi miền Nam và sự cơ giới hóa sản xuất bông, các điều kiện kinh tế đã thay đổi cho nên các elite miền nam đã ít sẵn sàng để chiến đấu nhiều hơn.
TÁI SINH Ở TRUNG QUỐC
Đảng Cộng Sản dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông cuối cùng đã lật đổ các nhà Dân tộc Chủ nghĩa, do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo, trong năm 1949. Cộng hòa Nhân dân Trung hoa đã được công bố ngày 1 tháng Mười. Các thể chế chính trị và kinh tế được tạo ra sau 1949 đã hết sức khai thác. Về mặt chính trị, họ đề cao chế độ chuyên chế của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Không tổ chức chính trị khác nào được cho phép ở Trung Quốc kể từ đó. Cho đến khi ông chết trong năm 1976, Mao đã hoàn toàn thống trị Đảng Cộng Sản và chính phủ. Đi cùng các thể chế chính trị khai thác, độc đoán này đã là các thể chế kinh tế hết sức khai thác. Mao ngay lập tức đã quốc hữu hóa đất và xóa bỏ mọi loại quyền tài sản trong một cú đột kích tàn ác. Ông đã sai hành quyết các địa chủ, cũng như những người khác mà ông cho rằng chống lại chế độ. Nền kinh tế thị trường đã cơ bản bị xóa bỏ. Nhân dân ở các vùng nông thôn đã dần dần được tổ chức vào các nông trại chung. Tiền và lương được thay bằng “công điểm,” mà có thể được trao đổi lấy hàng hóa. Hộ chiếu nội địa được đưa ra vào năm 1956 cấm đi lại mà không có sự cho phép thích hợp, nhằm tăng cường kiểm soát chính trị và kinh tế. Tất cả công nghiệp đã được quốc hữu hóa một cách tương tự, và Mao đã khởi động một cố gắng đầy tham vọng để thúc đẩy sự phát triển nhanh công nghiệp thông qua việc sử dụng các “kế hoạch năm năm,” làm theo mô hình Liên Xô.
Như với tất cả các thể chế khai thác, chế độ Mao đã cố gắng khai thác nguồn lực từ đất nước khổng lồ mà bây giờ ông kiểm soát. Như trong trường hợp của chính phủ Sierra Leone với hội đồng marketing của nó, Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã có độc quyền về bán sản phẩm, như gạo và ngũ cốc, mà đã được dùng để đánh thuế nặng các nông dân. Những cố gắng công nghiệp hóa đã biến thành Đại nhảy Vọt khét tiếng sau 1958 với sự diễn ra của kế hoạch năm năm lần thứ hai. Mao đã tuyên bố rằng sản lượng thép sẽ tăng gấp đôi trong một năm dựa trên các lò cao quy mô nhỏ ở “sân sau”. Ông đã đòi hỏi rằng trong mười lăm năm, Trung Quốc sẽ đuổi kịp Anh trong sản xuất thép. Vấn đề chỉ là đã không có cách khả thi nào để đạt các mục tiêu này. Để đạt được các mục tiêu của kế hoạch, phải tìm được sắt vụn, và nhân dân đã phải nung chảy chậu và xoong chảo của họ và thậm chí các công cụ nông nghiệp như cuốc và cày của họ. Những người lao động chăm sóc đồng ruộng đã sản xuất gang thép bằng phá hủy cày bừa của họ, và như thế phá hủy khả năng tương lai của họ để cấp thức ăn cho chính họ và cho đất nước. Kết quả đã là một nạn đói gây tai họa ở nông thôn Trung Quốc. Mặc dù các học giả tranh luận về vai trò của chính sách của Mao so với tác động của các đợt hạn hán xảy ra đồng thời, không ai nghi ngờ vai trò trung tâm của Đại nhảy Vọt trong gây ra cái chết của giữa hai mươi và bốn mươi triệu người. Chúng ta không biết chính xác bao nhiêu, bởi vì Trung Quốc dưới thời Mao đã không thu thập các số liệu mà ghi lại làm tư liệu các hành động tàn bạo. Thu nhập đầu người đã giảm khoảng một phần tư.
Một hệ quả của Đại nhảy Vọt đã là thành viên kỳ cựu của Đảng Cộng Sản, Đặng Tiểu Bình, một tướng rất thành công trong cách mạng, người đã lãnh đạo phong trào “chống hữu” gây ra sự hành quyết của nhiều “kẻ thù của cách mạng,” đã có một sự thay đổi tấm lòng. Tại một hội nghị ở Quảng Châu miền Nam Trung Quốc năm 1961, Đặng lập luận, “Không quan trọng liệu mèo là đen hay trắng, nếu nó bắt được chuột, nó là con mèo tốt.” Không quan trọng liệu các chính sách có vẻ cộng sản hay không; Trung Quốc đã cần các chính sách mà khuyến khích sản xuất sao cho nó có thể cho nhân dân của nó ăn.
Thế nhưng không lâu sau Đặng phải chịu đau khổ vì tính thực tiễn mới tìm thấy của ông. Ngày 16 tháng Năm, 1966, Mao tuyên bố rằng cách mạng bị đe dọa bởi những phần tử “tư sản” đang làm xói mòn xã hội cộng sản của Trung Quốc và muốn tái lập chủ nghĩa tư bản. Để đáp lại, ông đã tuyên bố Đại Cách mạng Văn hóa Vô sản, thường được nhắc tới như Cách mạng Văn hóa. Cách mạng Văn hóa đã dựa trên mười sáu điểm. Điểm đầu tiên bắt đầu thế này:
Mặc dù tầng lớp tư sản đã bị lật đổ, nó vẫn thử dùng các ý tưởng, văn hóa, và các phong tục cũ, và các tập quán bóc lột các giai cấp để tha hóa quần chúng, thâu tóm đầu óc họ, và cố gắng để tổ chức việc quay trở lại. Giai cấp vô sản phải làm đúng điều ngược lại: nó phải đối đầu với mọi thách thức của tầng lớp tư sản trong lĩnh vực tư tưởng và sử dụng các ý tưởng mới, văn hóa, và các phong tục, và các tập quán của giai cấp vô sản để thay đổi quan điểm tư tưởng của toàn xã hội. Hiện tại mục tiêu của chúng ta là để đấu tranh chống lại và đè bẹp những người trong chính quyền những kẻ đi con đường tư bản chủ nghĩa, để phê phán và bác bỏ các nhà chức trách hàn lâm tư sản phản động và ý thức hệ của tầng lớp tư sản và của tất cả các giai cấp bóc lột khác và biến đổi nền giáo dục, văn học, và nghệ thuật và tất cả các phần khác của thượng tầng kiến trúc mà không phù hợp với cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa, để tạo thuận lợi cho sự củng cố và sự phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa.
Không lâu sau Cách mạng Văn hóa, hệt như Đại nhảy Vọt, đã bắt đầu đánh đắm cả nền kinh tế lẫn nhiều sinh mệnh con người. Các Đơn vị Hồng Vệ Binh được thành lập khắp đất nước: các thành viên trẻ, nhiệt tình của Đảng Cộng Sản những người được sử dụng để thanh trừng các đối thủ của chế độ. Nhiều người bị giết, bị bắt, hay bị đi đày. Bản thân Mao đã bắt bẻ lại các mối lo ngại về quy mô bạo lực, nói rõ, “Cái ông Hitler này đã thậm chí còn tàn bạo hơn. Càng tàn bạo càng tốt, anh không nghĩ thế sao? Anh giết càng nhiều người, anh càng cách mạng.”
Đặng đã thấy mình được dán nhãn kẻ số hai đi con đường tư bản chủ nghĩa, và bị tù trong năm 1967, và sau đó bị đày đi tỉnh Giang Tây năm 1969, để làm việc trong một nhà máy máy kéo ở nông thôn. Ông đã được phục hồi năm 1974, và Mao đã được Thủ tướng Chu Ân Lai thuyết phục để bổ nhiệm Đặng làm phó thủ tướng thứ nhất. Ngay trong năm 1975, Đặng đã giám sát rồi việc soạn ba văn kiện đảng mà đã vẽ ra một hướng mới giả như chúng được chấp nhận. Chúng kêu gọi một sự phục hưng giáo dục bậc cao, một sự quay lại với các khuyến khích vật chất trong công nghiệp và nông nghiệp, và việc loại bỏ các phần tử “tả khuynh” khỏi đảng. Vào lúc đó, sức khỏe của Mao đã xấu đi và quyền lực đã ngày càng tập trung vào tay của những người rất tả khuynh mà Đặng Tiểu Bình đã muốn loại bỏ khỏi quyền lực. Vợ Mao, Giang Thanh, và ba cộng sự thân cận của bà, được gọi chung là Bè Lũ Bốn Tên, đã là những người ủng hộ mạnh mẽ của Cách mạng Văn hóa và sự đàn áp nảy sinh từ đó. Họ đã có ý định tiếp tục sử dụng bản kế hoạch này để vận hành đất nước dưới chế độ độc tài của Đảng Cộng Sản. Ngày 5 tháng Tư 5, một cuộc kỷ niệm tự phát tán dương cuộc đời của Chu Ân Lai ở Quảng trường Thiên An Môn đã biến thành một cuộc phản đối chống lại chính phủ. Bè Lũ Bốn Tên đã đổ lỗi cho Đặng về cuộc biểu tình, và một lần nữa ông bị tước hết mọi chức vụ và bị sa thải. Thay cho đạt được việc loại bỏ những kẻ khuynh tả, Đặng thấy mình bị những kẻ tả khuynh loại bỏ. Sau cái chết của Chu Ân Lai, Mao đã bổ nhiệm Hoa Quốc Phong làm quyền thủ tướng thay cho việc cất nhắc Đặng. Trong chân không quyền lực tương đối của năm 1976, Hoa đã có khả năng tích lũy rất nhiều quyền lực cá nhân.
Trong tháng Chín đã có một bước ngoặt: Mao chết. Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã dưới sự thống trị của Mao, và Đại nhảy Vọt và Cách mạng Văn hóa đã chủ yếu là các sáng kiến của ông. Với việc ra đi của Mao, đã có một chân không quyền lực thật sự, mà đã dẫn đến một cuộc đấu tranh giữa những người với các tầm nhìn khác nhau và các niềm tin khác nhau về các hệ quả của sự thay đổi. Bè Lũ Bốn Tên đã có ý định tiếp tục với các chính sách của Cách mạng Văn hóa như cách duy nhất để củng cố quyền lực của họ và của Đảng Cộng Sản. Hoa Quốc Phong đã muốn từ bỏ Cách mạng Văn hóa, nhưng ông đã không thể tách mình quá xa nó, bởi vì chính nhờ các ảnh hưởng của nó mà ông đã thăng tiến trong đảng. Thay vào đó, ông đã chủ trương quay lại với một tầm nhìn cân đối hơn của Mao, mà ông đã nói vắn tắt trong “Hai Phàm là,” như tờ Nhân dân Nhật báo, tờ báo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đã diễn đạt trong năm 1977. Hoa lập luận, “Chúng ta sẽ kiên quyết giữ vững bất cứ quyết định chính sách nào mà Chủ tịch Mao đã đưa ra, và kiên định đi theo bất cứ chỉ thị nào mà Chủ tịch Mao đã truyền đạt.”
Đặng Tiểu Bình đã không muốn hủy bỏ chế độ cộng sản và thay thế nó bằng các thị trường bao gồm hơn Hoa đã làm một chút nào. Ông cũng đã là phần của cùng nhóm những người được cách mạng cộng sản đưa lên nắm quyền lực. Nhưng ông và những người ủng hộ ông đã nghĩ rằng sự tăng trưởng kinh tế đáng kể có thể đạt được mà không gây nguy hiểm cho sự kiểm soát chính trị của họ: họ đã có một mô hình tăng trưởng dưới các thể chế chính trị khai thác mà sẽ không đe dọa quyền lực của họ, bởi vì nhân dân Trung Quốc đã cần kinh khủng mức sống được cải thiện và bởi vì tất cả sự chống đối có ý nghĩa đối với Đảng Cộng Sản đã bị xóa sạch trong triều đại của Mao và Cách mạng Văn hóa. Để đạt điều này, họ đã muốn từ chối không chỉ Cách mạng Văn hóa mà cả nhiều trong số di sản thể chế Maoist. Họ đã nhận ra rằng sự tăng trưởng kinh tế sẽ là có thể chỉ với các bước đáng kể theo hướng các thể chế kinh tế bao gồm. Như thế họ đã muốn cải cách nền kinh tế và nâng đỡ vai trò của các lực lượng thị trường và các khuyến khích. Họ cũng đã muốn mở rộng phạm vi của quyền sở hữu tư nhân và giảm vai trò của Đảng Cộng Sản trong xã hội và sự cai quản, thoát khỏi các khái niệm như đấu tranh giai cấp. Nhóm của Đặng đã cũng mở cửa cho đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế, và đã muốn theo đuổi một chính sách năng nổ hơn nhiều về hội nhập với nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, đã có những giới hạn, và việc xây dựng các thể chế kinh tế bao gồm thật sự và sự làm giảm đi sự kìm kẹp mà Đảng Cộng Sản đã có lên nền kinh tế đã không thậm chí là các lựa chọn.
Điểm ngoặt đối với Trung Quốc đã là quyền lực của Hoa Quốc Phong và sự sẵn sàng của ông để sử dụng nó chống lại Bè Lũ Bốn Tên. Trong vòng một tháng sau khi Mao chết, Hoa đã bố trí một cú chống lại Bè Lũ Bốn Tên, bắt tất cả họ. Rồi ông đã phục hồi chức cho Đặng trong tháng Ba 1977. Đã chẳng có gì là không thể tránh khỏi hoặc về sự diễn tiến này của các sự kiện hay về các bước quan trọng tiếp theo, mà đã do bản thân Hoa bị Đặng Tiểu Bình khôn khéo đánh bại về mặt chính trị. Đặng đã khuyến khích sự phê phán công khai Cách mạng Văn hóa và đã bắt đầu bổ nhiệm vào các vị trí then chốt trong Đảng Cộng Sản ở mọi cấp những người, giống ông, đã chịu đau khổ trong thời kỳ này. Hoa đã không thể từ chối Cách mạng Văn hóa, và việc này đã làm yếu ông. Hoa cũng đã là một người mới đến đối với các trung tâm quyền lực, và ông đã thiếu mạng lưới quan hệ và các mối quan hệ phi chính thức mà Đặng đã xây dựng trong nhiều năm. Trong một loạt bài phát biểu, Đặng đã bắt đầu phê phán các chính sách của Hoa. Trong tháng Chín 1978, ông đã công khai tấn công Hai Phàm Là, lưu ý rằng thay cho để bất cứ cái gì Mao đã nói quyết định chính sách, cách tiếp cận đúng đã là “tìm kiếm chân lý từ các sự thực.”
Đặng cũng đã bắt đầu một cách tài ba để dùng sức ép công khai đối với Hoa, mà đã được phản ánh một cách mạnh mẽ nhất trong phong trào Bức Tường Dân chủ trong năm 1978, trong đó người dân đã dán các lời phàn nàn về đất nước lên một bức tường ở Bắc Kinh. Trong tháng Bảy 1978, một trong những người ủng hộ Đặng, Hồ Kiều Mộc, đã trình bày một số nguyên lý cơ bản của cải cách kinh tế. Các nguyên lý này bao gồm các quan niệm rằng các hãng phải được trao quyền hạn và sự chủ động lớn hơn để đưa ra các quyết định sản xuất riêng của chúng. Giá cả phải đưa cung và cầu lại với nhau, hơn là chỉ được chính phủ định ra, và sự điều tiết nhà nước của nền kinh tế nói chung nên giảm đi. Đấy là là những gợi ý cấp tiến, nhưng Đặng đang có được ảnh hưởng. Trong các tháng Mười Một và Mười Hai 1978, Hội nghị toàn thể Thứ Ba của Ban Chấp Hành Trung Ương Khóa Mười Một đã tạo ra bước đột phá. Ngược với sự phản đối của Hoa, đã quyết định rằng, từ nay trở đi, tiêu điểm của đảng sẽ không là đấu tranh giai cấp mà là hiện đại hóa kinh tế. Hội nghị toàn thể đã công bố các thí điểm thăm dò với một “hệ thống trách nhiệm hộ gia đình – khoán hộ” trong một số tỉnh, mà đã là một cố gắng để đẩy lùi nông nghiệp tập thể và đưa những khuyến khích kinh tế vào canh tác. Vào năm tiếp theo, Ban Chấp hành Trung Ương đã ghi nhận tính trung tâm của quan niệm “chân lý từ các sự thực” và tuyên bố Cách mạng Văn hóa đã là một tai họa lớn đối với nhân dân Trung Quốc. Suốt thời kỳ này, Đặng đã bảo đảm việc bổ nhiệm những người ủng hộ của riêng ông vào các vị trí quan trọng trong đảng, quân đội, và chính phủ. Mặc dù ông đã phải hành động chậm chống lại những người ủng hộ Hoa trong Ban Chấp hành Trung Ương, ông đã tạo ra các cơ sở song song của quyền lực. Vào năm 1980 Hoa đã bị buộc phải từ chức thủ tướng, được thay thế bởi Triệu Tử Dương. Vào năm 1982 Hoa đã bị loại khỏi Ban Chấp hành Trung Ương. Nhưng Đặng đã không dừng lại ở đây. Tại Đại Hội lần thứ Mười Hai của Đảng năm 1982, và sau đó trong Hội nghị Đảng Toàn Quốc tháng Chín 1985, ông đã đạt được sự cải tổ lại hoàn toàn ban lãnh đạo đảng và các cán bộ cấp cao. Những người trẻ hơn nhiều, có đầu óc cải cách đã tham gia. Nếu so sánh 1980 với 1985, thì vào năm sau, hai mươi mốt trong số hai mươi sáu ủy viên Bộ Chính trị, tám trong số mười một thành viên Ban Bí Thư Đảng Cộng Sản, và mười trong số mười tám phó thủ tướng đã được thay.
Bây giờ vì Đặng và các nhà cải cách đã hoàn thành cuộc cách mạng chính trị của họ và đã kiểm soát nhà nước, họ đã tung ra một loạt những thay đổi thêm về các thể chế kinh tế. Họ đã bắt đầu trong nông nghiệp: Vào năm 1983, theo các ý tưởng của Hồ Kiều Mộc, hệ thống khoán hộ, mà đã cung cấp các khuyến khích kinh tế cho các nông dân, đã được chấp nhận một cách phổ quát. Trong năm 1985 việc nhà nước mua ngũ cốc bắt buộc đã bị từ bỏ và được thay thế bởi một hệ thống của các hợp đồng tự nguyện hơn. Sự kiểm soát hành chính giá cả nông nghiệp đã được nới lỏng rất nhiều trong năm 1985. Trong nền kinh tế đô thị, các doanh nghiệp nhà nước đã được trao nhiều quyền tự trị hơn, và mười bốn “thành phố mở” đã được nhận diện và được trao khả năng để thu hút đầu tư nước ngoài.
Chính nền kinh tế nông thôn đã cất cánh đầu tiên. Việc đưa ra các khuyến khích đã dẫn đến một sự tăng lên đột ngột về năng suất nông nghiệp. Vào năm 1984 sản lượng ngũ cốc đã cao hơn sản lượng của năm 1978 một phần ba, mặc dù ít người hơn đã tham gia vào nông nghiệp. Nhiều người đã chuyển vào làm việc trong các ngành công nghiệp mới ở nông thôn, trong cái gọi là các Doanh Nghiệp Hương Trấn. Các doanh nghiệp này đã được cho phép phát triển ngoài hệ thống kế hoạch công nghiệp nhà nước sau 1979, khi được chấp nhận rằng các hãng mới đã có thể tham gia và cạnh tranh với các hãng do nhà nước sở hữu. Từ từ các khuyến khích kinh tế cũng đã được đưa vào khu vực công nghiệp, đặc biệt vào hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, mặc dù tại giai đoạn này đã không có ám chỉ nào về tư nhân hóa, mà đã phải đợi đến giữa các năm 1990.
Sự tái sinh của Trung Quốc đến với một sự dịch chuyển quan trọng khỏi một trong những tập khai thác nhất của các thể chế kinh tế và hướng tới các thể chế bao gồm hơn. Các khuyến khích thị trường trong nông nghiệp và công nghiệp, rồi sau đó tiếp theo bởi đầu tư nước ngoài và công nghệ, đặt Trung Quốc lên một con đường tăng trưởng kinh tế nhanh. Như chúng ta sẽ thảo luận thêm trong chương tiếp theo, đấy là sự tăng trưởng dưới các thể chế chính trị khai thác, cho dù chúng không khắc nghiệt như dưới Cách mạng Văn hóa và cho dù các thể chế kinh tế đã trở nên một phần bao gồm. Tất cả điều này không làm giảm đi mức độ mà những thay đổi về các thể chế kinh tế ở Trung Quốc đã là căn bản. Trung Quốc đã phá vỡ khuôn đúc, cho dù nó đã không biến đổi các thể chế chính trị của nó. Như ở Botswana và miền Nam Hoa Kỳ, những thay đổi cốt yếu đã đến trong thời gian một bước ngoặt – trong trường hợp của Trung Quốc, tiếp theo cái chết của Mao. Chúng đã cũng tùy thuộc, thực ra hết sức tùy thuộc ngẫu nhiên, vì đã chẳng có gì là không thể tránh khỏi về Bè Lũ Bốn Tên thua cuộc chiến quyền lực; và nếu giả như họ đã không, thì Trung Quốc đã không trải qua sự tăng trưởng kinh tế kéo dài mà nó đã thấy trong ba mươi năm vừa qua. Nhưng sự tàn phá và sự đau khổ con người, mà Đại nhảy Vọt và Cách mạng Văn hóa đã gây ra, đã tạo ra cầu đủ cho sự thay đổi mà Đặng Tiểu Bình và các đồng minh của ông đã có thể thắng cuộc đấu tranh chính trị.
BOTSWANA, TRUNG QUỐC, và miền Nam Hoa Kỳ, hệt như Cách mạng Vinh quang ở nước Anh, Cách mạng Pháp, và Minh Trị Duy Tân ở Nhật Bản, là những minh họa sống động rằng lịch sử không phải là định mệnh. Bất chấp vòng luẩn quẩn, các thể chế khai thác có thể được thay thế bởi các thể chế bao gồm. Nhưng nó chẳng tự động cũng không dễ. Một sự hợp lưu của các nhân tố, đặc biệt một bước ngoặt gắn liền với một liên minh rộng của những người thúc đẩy cho cải cách hay các thể chế hiện tồn thuận lợi khác, thường là cần thiết cho một quốc gia để đi những bước dài hướng tới các thể chế bao gồm hơn. Ngoài ra sự may mắn nào đó là chìa khóa, bởi vì lịch sử luôn luôn diễn ra theo cách tùy thuộc ngẫu nhiên.
Người dịch : Nguyễn Quang A
Nguồn: Why Nations Fail
THE ORIGINS OF POWER, PROSPERITY, AND POVERTY
Daron Acemoglu and Jemes A. Robinson
Crown Publishers ● New York