This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Thứ Tư, 25 tháng 7, 2012

Giáo dục Mỹ: Học để biết…tự học

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/giao-duc-my-hoc-de-biettu-hoc

(TuanVietNam) - Các nền giáo dục văn minh thường hướng theo cách dạy trong trường sao cho đứa trẻ học để ra đời biết cách tự học…
Chuyện học bên ta: Biết rồi…khổ lắm, nói mãi
Ảnh: psdschools.org
Báo chí nói quá nhiều đến cải cách giáo dục, kêu gọi từ ý kiến của người dân đến trí thức. Nói chuyện với một số bạn trong ngành giáo dục sẽ thấy, viết về cải cách dễ, nói dễ, bàn tới bàn lui dễ, ra nghị quyết dễ, nhưng làm…khó. Người viết bài này từng làm “giáo sư” một thời gian ở Đại học Thăng Long nên cũng hiểu tại sao.
Đứng trước bảng đen, bụi phấn bay mù, học sinh ngủ gật gù, thầy nói khản cả giọng, trời nóng hầm hập, điện đóm phập phù thì chỉ muốn lật giáo án cho nhanh. Mỗi tiết 60 phút thì bớt đi 10 phút hay gộp hai tiết liền để còn chạy sô. Thầy trò nào chả mong trống trường.
Hỏi các em có muốn nghỉ sớm không, cả lớp giơ tay và hò reo, kể cả khi nghe thầy, cô ốm... Học sinh trốn học là vì đến trường chán quá, lại cái ông thầy, “lão” rồi mà chưa vợ, nên hâm hâm, toàn bắt chẹt học trò, ngồi khoanh tay để trên bàn hay cấm cãi.
Thầy “cáo cụ” ra bài tập và bắt các em lên bảng để câu giờ. Học trò cũng khôn chán, chúng cử một đứa giỏi làm vèo vài phút là xong. Thế là thầy chịu, đành nói tiếp để chúng còn…ngủ.
Tại sao thế? Vì cách dạy và học của chúng ta là thầy nói, thầy đọc, trò nghe, trò ghi, trò học thuộc lòng, trò thi lấy điểm và khi ra đời…trò quên. Chuyện này ai cũng biết rồi…khổ lắm, nói mãi. Năm này qua năm khác, người đòi cải cách cứ việc kêu gào, người đứng trên bục giảng và sỹ tử ngồi nghe vẫn như xưa.
Sự học bên Tây: Vui như tết
Tôi có anh bạn có con học ở Mỹ. Anh bạn email kể về “sự học”, mới nghe tôi thấy cũng chướng vì nghĩ anh ta khoe khoang dị hợm. Nhưng vài cái mail, tôi thấy hay hay nên chép lại cho độc giả tham khảo.
Cái trường con anh ta học ngay gần nhà, lại thuộc “xã” bên nên anh muốn cho “thằng cu” vào đó cho tiện. Lúc xin chuyển trường trái tuyến chỉ mong như ở Việt Nam, làm cái phong bì cho cô hiệu trưởng thế là xong.
Nhưng bên Mỹ thì trời ơi, bao nhiêu thủ tục giấy tờ, hối lộ thì đi tù. Trái tuyến xe bus không đón đưa mà mình lại không đút lót được tài xế. Những lúc ấy thấy cho trẻ đi học ở Việt Nam sướng thế (!)
Lúc con vào học rồi anh mới ngỡ ngàng, bên đây không có sách giáo khoa. Thầy cô "tự nghĩ" ra giáo án của mình. Mỗi hôm vài tờ photocopy trong cặp bọn trẻ. Làm toán thì như vẽ hươu vẽ vượn, trong khi môn vẽ thì tha hồ sáng tạo. Hai thằng con nhà anh chỉ biết đến siêu nhân, tầu thủy, máy bay nên vở chằng chịt toàn cảnh đánh nhau kiếm súng, máu đỏ tung tóe. Thế mà cô toàn cho điểm good (tốt).
Anh bạn tôi đau khổ nhất là mỗi tuần có một bài văn luận cho thằng cu lớp 2. Có bài ra như sau “Nếu em là hiệu trưởng thì em sẽ làm gì hôm thứ hai?” hay “Em thức dậy buổi sáng thấy mình bé như cái kẹo thì em sẽ thế nào?”. Thằng bé chịu, hỏi ông bố.
Bố nó đã làm hiệu trưởng bao giờ đâu nhưng cũng bịa, sáng thứ hai thì đến phải chào mọi người, xem công văn (Mỹ làm gi có công văn) và đi vòng quanh trường xem có trộm cắp gì không (trộm cắp Mỹ không tới trường học, ăn gì ở đó). Thằng con cứ thế chép vào vở theo kiểu câu cú nó nghĩ ra.
Bài “cái kẹo” thì ông bố hỏi vặn thằng con, bé như cái kẹo thì cái giầy của con như thế nào, ăn sáng mất nhiều không. Ông tướng con gật gù và thán phục lắm. Đoạn sau nó tự nghĩ ra và viết vào vở.
Không ngờ đến lớp cô giáo cho điểm cao nhất vì có trình độ…sáng tác. Chả hiểu ở lớp có nhiều học sinh được điểm cao như thế không. Có lẽ điểm này là chấm cho ông bố chứ không phải thằng con.
Bé tý mà học sinh, đứa nào cũng có một cuốn vở ghi những cuốn sách truyện đã đọc trong tuần. Mỗi tối phải đọc 15-20 phút truyện rồi mới lơ mơ, ngáp và “Good night, dady”.
Mãi sau bạn tôi đi họp phụ huynh, cô giáo mới bật mí là những bài kiểu đó cần có gia đình tham gia và cũng là cách kiểm tra xem ở nhà bố mẹ có quan tâm đến học hành của trẻ. Cô dạy ở lớp, bố mẹ cùng con học ở nhà và đó chính là gia đình và nhà trường cùng tham gia vào giáo dục, xây dựng nhân cách cho đứa trẻ, dạy chúng tự tư duy, tìm tòi và sáng tạo.
Thấy con mình chỉ một ít điểm khá, còn lại toàn trung bình nên anh lo lắm. Đến báo cô giáo là gia đình bắt các cháu học thêm ở nhà. Cô gạt đi, các cháu đã học từ 9 giờ sáng đến 3 giờ chiều, thế là đủ lắm với một đứa trẻ. Nếu có bài tập về nhà thì chỉ làm trong 15 phút. Đọc truyện thì thoải mái. Nhưng học thêm nhồi nhét thì nhà trường không khuyến khích, vì trẻ sẽ chơi vào lúc nào?
Đi học về anh bạn hỏi, ở lớp làm những gì, vở chép của con đâu? Thằng con trợn tròn mắt, chép cái gì hả bố, toàn là tick tick (đánh dấu đúng sai) vào bài tập (trắc nghiệm). Thỉnh thoảng phải tóm tắt câu chuyện đọc trên lớp qua những câu hỏi và trả lời trên một trang giấy không dòng kẻ, chữ như gà bới. Thích viết tay trái, tay phải tùy. “Vẽ” chữ xuôi ngược cũng được.
Bọn trẻ nhà ấy từ bé đi học mẫu giáo đến nay là lớp 3 rồi, ngày nào phải nghỉ học là chúng tiếc lắm. Chúng bảo, ở lớp được “tranh luận” bố ạ. Câu chuyện đọc lên, các câu hỏi được đặt ra. Cô giáo chả phải nói mấy, toàn bọn con tự học, tự tranh cãi và tự cho điểm, vui như tết. Cả lớp quanh vài cái bàn tròn, tha hồ “đấu khẩu”…
Có lẽ bọn trẻ được tham gia vào “giảng dạy” nên thời gian mới qua nhanh thế. Là người trong cuộc nên chúng cảm thấy thú vị. Học mà chơi và chơi mà học có thể là thế chăng?
" Nếu em là hiệu trưởng thì em sẽ dậy sớm, ăn mặc tề chỉnh. Sau đó em sẽ đeo cravat và..."
Thay đổi tận gốc hay hãy thay trên ngọn một tý?
Học như dân ta thì thi Olympic dễ được giải cao, thi vào các trường đại học dễ đỗ và ra đời có bằng cấp. Nhưng bằng cấp cao mà mặt bằng xã hội không cao. Có phải ai cũng đi đại học đâu, chả lẽ 85 triệu dân toàn là giáo sư, lấy ai quét rác, đào cống, xây cầu.
Có lẽ vì thế các nền giáo dục văn minh thường hướng theo cách dạy trong trường sao cho đứa trẻ học để ra đời biết cách tự học tiếp. Có thể không có bằng cấp gì nhưng vì biết tự học, tự tìm hiểu thì gặp chuyện gì khó khăn con người ta sẽ biết tìm lối thoát. Ở ta, gọi là “giải quyết những vấn đề từ thực tiễn”…
Nước Nhật sau 30 năm chiến tranh đã trở thành cường quốc kinh tế vì đơn giản họ rất coi trọng giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, hướng tới dạy con người cách suy nghĩ, sáng tạo và tự học trong suốt quãng đời còn lại sau khi ra trường.
Có 20.000 tiến sỹ, gấp đôi hay gấp ba thế nữa, nhưng cả dân tộc 85 triệu người không biết cách tự học sau khi ra trường thì coi như chiến lược giáo dục đã thất bại.
Có lẽ cách giáo dục trên của Mỹ nhằm tạo ra đứa trẻ có trí thông minh, biết xử lý tình huống hợp lý hơn là một cậu học sinh, tinh thông kim cổ, nhưng lóng ngóng không biết luộc quả trứng lòng đào hay rửa cái bát cho sạch.
Kêu gọi thay đổi giáo dục tận gốc thì cao siêu quá. Thay gốc thì ai sẽ làm cái gốc tiếp theo đây. Để rồi khi vào ngồi vào ghế của Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân hay đứng trước giảng đường mới thấy cái gốc mới ấy cũng khó nhằn.
Tuy vậy, thay đi chút trên ngọn, giáo dục không hướng tới bằng cấp mà dậy cho thế hệ trẻ biết cách tự học. Biết đâu mình lại vượt Mỹ cũng nên vì dân ta vốn thông minh và nhanh nhẹn hơn người…
  • Hoa Lư
  • (Lời toàn soạn: Thật ra, cái ngọn ấy tưởng nhỏ lại không nhỏ chút nào. Nó chính là chuyện lớn nhất hiện nay - thay đổi tư duy, nhận thức và cả kỹ năng của người thầy về phương pháp)

Thứ Ba, 24 tháng 7, 2012

Theo dòng thời gian (6)

2008


Cải cách thể chế: Góc nhìn xác lập trách nhiệm giải trình
http://www.tuanvietnam.net//vn/tulieusuyngam/3380/index.aspx
Dân làm chủ nhưng đã trao quyền cho Nhà nước đại diện. Nhà nước đã nhận quyền đó thì phải có trách nhiệm - Ý kiến của TS. Phạm Duy Nghĩa, khoa Luật, ĐHQG Hà Nội tại Diễn đàn Quốc tế về chuyển đổi kinh tế năm 2008 tại Hà Nội.


Bộ máy rục rịch chuyển động

Nhìn nhà nước trước hết ở nền hành chính. Nền hành chính Việt Nam đang chứng kiến sự thay đổi lớn. Cải cách hành chính đang được đẩy mạnh và đề án 30 rà soát luật theo hướng vì nhân dân, làm cho chức năng phục vụ của chính phủ rõ nét hơn. Theo chương trình cải cách hành chính đến 2010, bộ máy hành chính từ trên xuống dưới đã được xắp xếp còn 26 bộ và cơ quan ngang bộ từ 36 bộ trước đây.

Bộ máy nhà nước cũng rục rịch chuyển nhanh, từ nền hành chính cai trị sang nền hành chính phục vụ. Nhiều cơ quan bắt đầu áp dụng chứng chỉ ISO cho công tác hành chính. Thái độ và cách thực hiện hành chính có chuyển đổi, dù ấn tượng khi bước vào cơ quan hành chính vẫn quá lớn và uy quyền so với khu vực tiếp dân khiêm tốn.

Xét ở khía cạnh trách nhiệm, chính quyền nhận sự ủy trị từ dân thì đồng thời phải có trách nhiệm trước dân. Dân làm chủ nhưng dân đã trao quyền cho Nhà nước đại diện. Nhà nước đã nhận quyền đó thì phải có trách nhiệm, không thể nói không biết khi được hỏi về nước tương có chất gây ung thư... Nhà nước hành xử như thế nào là quyền của anh nhưng anh phải chịu trách nhiệm trước dân chúng.

Tuy nhiên, thực hiện trách nhiệm giải trình này là một vấn đề lớn. Những hiểu biết của Việt Nam về vấn đề này còn non nớt, sơ khai khi chúng ta không có khoa học chính trị phát triển, không có các thiết chế đối trọng với chính phủ. Nó phải được hóa thành các trách nhiệm giải trình cụ thể.

Các thiết chế quyền lực nhà nước, hẹp hơn là quyền lực hành chính phải được tổ chức theo nguyên tắc ủy quyền và xác lập trách nhiệm giải trình trước người đã giao quyền.

Trách nhiệm giải trình không có nghĩa là làm theo cách mà ta đề xuất: thiết lập đường dây nóng lên Quốc hội để dân chất vấn. Tôi không nghĩ nền dân chủ đại diện nào có thể vận hành theo kiểu nóng hừng hực và hoang sơ như thế được.

Muốn khống chế kiểm soát Chính phủ phải thông qua cơ quan dân cử, vì 86 triệu đồng bào không làm được điều này nếu không qua người đại diện. Người đại diện cho dân là người được cử tri bỏ phiếu.

Bầu nghị sỹ nhưng họ không muốn đóng vai nghị sỹ cũng khó

Do đó, một cuộc cải cách thứ hai ở Việt Nam, tuy không đặt ra như cải cách hành chính, nhưng bắt đầu lộ diện. Đó là các cơ quan dân cử, Quốc hội và các tổ chức lấp ló bắt đầu cải cách.

Hai năm trước, có vẻ người dân quan tâm đến các cuộc điều trần ở Quốc hội, nhiệt tình theo dõi hơn. Nay, người ta không quan tâm nhiều nữa. Điều này đặt vấn đề nghiêm túc: Nếu Quốc hội không đóng đúng vai, vì dân, vì cử tri thì Quốc hội sẽ không được dân quan tâm.

Hiện nay, hoạt động Quốc hội cũng đã có nhiều cải cách: nhiều phiên chất vấn được tường thuật công khai, và người dân lấy đó làm thú vị; các dự luật cơ bản công bố công khai, và dân chúng được tham gia (ít nhất, trao đổi là có, còn được quan chức nghe hay không chưa bàn).

Các Ủy ban của Quốc hội đã bắt đầu tiến hành những phiên điều trần và nghe chính sách để tiếng vọng đa chiều bắt đầu xuất hiện ở Ủy ban Thường vụ.
Ủy ban này là rất quan trọng vì họ có trình luật ra Quốc hội.

Vấn đề được nêu lên để tranh luận là vai trò của các Ủy ban sẽ ra sao trong Quốc hội. Cử tri ủy quyền cho đại biểu quốc hội nhưng các vị đại biểu ấy lại ủy quyền tiếp cho vài chục người.

Bầu họ làm nghị sỹ nhưng bản thân họ không muốn đóng vai nghị sỹ thì cũng khó.

Các nghị sỹ phải có nghề, chuyên nghiệp và có động lực để bảo vệ cử tri. Đến lúc chúng ta phải thay đổi luật, để mỗi đại biểu đại diện cho từng khu vực và chịu trách nhiệm trước khu vực đó.

Muốn áp đặt được trách nhiệm giải trình đối với cơ quan chấp pháp, cơ quan dân cử phải có một số công cụ đặc trưng. Thô ráp nhất, các đại biểu dân cử phải có thông tin đầy đủ, đúng và kịp thời, phải có năng lực phân tích và phản biện, phải được tự do phát biểu mà không sợ trù dập hay truy bức trách nhiệm vì thái độ giám sát của mình.

Thiếu những điều ấy, mọi tranh luận nghị trường khó có đủ chứng cứ. Quốc hội khó có đủ lý lẽ để bác các đề xuất chính sách của Chính phủ.
Chính phủ sẽ mạnh hơn nếu được giám sát tốt hơn, thông qua một Quốc hội mạnh hơn. Nếu Quốc hội có trách nhiệm hơn, giám sát mạnh hơn, Chính phủ cũng sẽ có trách nhiệm với dân chúng hơn. Điều này là đối trọng, chứ không triệt tiêu.

Tòa án độc lập: thiết chế giám sát Chính phủ

Hơn nữa, Chính phủ chỉ được kiểm soát nếu có hệ thống tòa án độc lập tốt. Nếu nền hành chính tự làm luật mà động chạm đến người dân thì họ phải có cơ hội để tiệm cận công lý, tranh luận với Chính phủ xem quy định có đúng không. Nếu hai bên không thống nhất được với nhau, thì phải có bên thứ 3 để người ta kêu. Đó chính là nền tư pháp độc lập.

Ở Việt Nam, ý chí chính trị không thiếu. Có ít nhất 3 văn kiện của Bộ chính trị về việc này. Nhưng Tòa án ở Việt Nam chưa được cải cách căn bản. Nền tư pháp của Việt Nam về cơ bản chưa độc lập.

Nguyên nhân của tình trạng này là gì? Thứ nhất, nhiệm kỳ của thẩm phấn là 5 năm một lần, do đó, họ phải lo "giữ ghế". Thứ hai, ngân sách chi cho tòa án eo hẹp, phụ thuộc chính quyền địa phương. Thứ ba, lương các quan tòa quá thấp, chỉ 3-4 triệu/tháng trong bối cảnh hiện nay.
Không độc lập về tiền, về bổ nhiệm, và hành chính địa phương thì tòa không thể độc lập được. Bản thân Hiến pháp có nêu, tòa án chỉ độc lập khi xét xử, không nêu tòa độc lập hoàn toán.

Tòa án độc lập chính là thiết chế giám sát Chính phủ, điều các nước đều làm. Chúng ta cũng nên du nhập vào tòa mà quyền uy xác lập công lý. Câu chuyện này ở Việt Nam chưa được tranh luận, chứ chưa nói tới triển khai.

Thêm vào đó, Chính phủ chỉ mạnh khi người dân hiểu biết và "đòi" quyền. Nếu dân trí không được nâng cao, nếu ý thức dân chúng không được tổ chức thành những dư luận mạnh mẽ, nếu không có xã hội dân sự và truyền thông độc lập thì chúng ta không thể có Chính phủ mạnh. Điều này ở Việt Nam vẫn còn đang tranh luận và về chính sách chưa có gì.

Cũng giống như khách hàng có khó tính, có yêu cầu cao thì người bán hàng mới nỗ lực đáp ứng. Việt Nam sẽ không có một chính quyền mạnh nếu dân chúng không hiểu biết.

Chính phủ không phải diễn viên một mình một sân diễn

Nhưng nền hành chính Việt Nam vẫn đang gặp phải những vấn đề phức tạp, trong đó có sự can thiệp mạnh của Đảng. Chính phủ không phải diễn viên một mình trên một sân diễn, mà ngược lại, chịu tác động của quá nhiều tác nhân.

Muốn làm cho Chính phủ mạnh và có trách nhiệm thì trước hết phải rạch ròi. Đây là câu chuyện bắt đầu được tranh luận ở Việt Nam. Trong tương lai gần, cuộc tranh luận sẽ phải hướng đến là phần nào là chấp pháp, theo nghĩa người đứng đầu các bộ, các vụ sở do Đảng cử, còn phần nào là kỹ trị thì do các chuyên gia có năng lực, chuyên môn chịu trách nhiệm.

Phần hành chính nên tách ra khỏi chấp pháp. Khi đó, Đảng phải đương nhiên quản lý phần chấp pháp, người của Đảng phải đứng ở những vị trí then chốt nếu làm chính sách, còn triển khai chính sách là các chuyên viên. Lúc đó ta mới thảo luận xem có bàn đến chuyện thuê chuyên gia giỏi để phụ trách việc này việc kia hay không. Cuộc tranh luận này ở Việt Nam mới bắt đầu nhưng chưa đẩy đi sâu.

---------

Kinh tế thị trường và hội nhập đã đi cùng với những thay đổi thể chế đáng kê rở Việt Nam. Bộ máy hành chính, cơ quan dân cử, tòa án, giới truyền thông, xã hội dân sự... đang chứng khiến những định hướng tìm đến vai trò đặc thù riêng. Quy mô và tốc độ cải cách từng khu vực thể chế có thể khác nhau, song chúng đều cần thiết để xác lập trách nhiệm giải trình của chính quyền với nhân dân.

* Phương Loan (ghi)

Kiềm chế lạm phát: Hãy bắt đầu từ chính Nhà nước
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia tư vấn cao cấp bộ Kế hoạch và Đầu tư:

Triết lý cơ bản của kinh tế thị trường là phải cạnh tranh sòng phẳng. Ai giỏi, ai đem lại lợi ích cao nhất cho khách hàng thì người ấy được phát triển còn anh kém, mang lại chất lượng sản phẩm kém, giá thành cao thì thôi đi và điều đó đem lại sự lành mạnh cho thị trường. Cho nên, cần rà soát, nâng cao hiệu quả đầu tư, Nhà nước chỉ nên đầu tư vào những lĩnh vực nào thật cần thiết mà tư nhân không làm như vấn đề môi trường….Còn lại tất cả những gì tư nhân có thể làm thì hãy để họ làm, dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước và có sự hợp tác chặt chẽ giữa công và tư.


“Phá” cũng tăng GDP?!

Phóng viên (PV): Có nhiều ý kiến cho rằng một trong những “nguồn cơn” dẫn đến tình trạng lạm phát hiện nay là bởi mấy năm gần đây Chính phủ vì mải “đuổi theo” thành tích tăng trưởng nên đã vội vã đẩy mạnh, giải ngân nhiều dự án đầu tư, kể cả những dự án thiếu hiệu quả. Ông bình luận thế nào về quan điểm này?


Tiến sĩ Lê Đăng Doanh (TS LĐD): Lạm phát tăng do 3 nhóm nhân tố chính: lạm phát toàn cầu, trong nước thiên tai, mất mùa và chính sách tiền tệ và tín dụng, trong đó có liên quan đến đầu tư. Đầu tư cần tín dụng mà đầu tư của Chính phủ toàn những công trình, dự án lớn cả. Thành ra, liên tục trong mấy năm vừa qua và năm 2007, chúng ta đã tăng mức độ tín dụng lên rất cao. Tăng cao như vậy, đưa vào đầu tư thì một phần nó biến thành tài sản nhưng một phần nó cũng biến thành tiền để mua nguyên vật liệu…

Đáng chú ý là nhiều dự án công, chi tiền ra nhiều nhưng lại lãng phí, không đem lại hiệu quả kinh tế xã hội. Những ví dụ rất đau đớn gần đây như những công trình đầu tư ở miền Trung do Tổng công ty đầu tư xây dựng miền Trung (Cosevo) thực hiện, cầu Văn Thánh phải chữa đi, chữa lại mãi, mỗi lần chữa thì lại báo cáo tăng GDP. Nhưng tăng GDP như thế nền kinh tế thực chất có được cái gì đâu?

Tình trạng đầu tư kém hiệu quả thể hiện rất rõ ở Việt Nam hiện nay, để có được 1 đồng GDP phải đầu tư tới 4,4 đồng, trong khi các nước khác, chỉ tiêu tốn trung bình 2,5-3 đồng. Mà cũng chẳng cần so thế giới, chỉ so với chính bản thân Việt Nam thời kỳ mới đổi mới, mức này chỉ khoảng 2,5 đồng.

Tiền chi ra nhưng không đem lại sản lượng hàng hóa tương ứng thì dĩ nhiên làm tăng số tiền thừa ra làm gia tăng lạm phát thôi

PV: Hiệu quả đầu tư công đi xuống, phải chăng do mức độ tham nhũng tăng lên, thưa TS?

TS LĐD: Có nhiều nguyên nhân không nên nói một cách võ đoán như thế nếu không có căn cứ điều tra cụ thể. Nhưng chúng ta cũng thấy, công tác chống tham nhũng tuy có đẩy mạnh nhưng ít có đổi mới. Báo chí vẫn nói tình trạng các cơ quan công quyền gây khó khăn cho dân khá nhiều như tình trạng mãi lộ, dịch vụ công khó khăn… Ví dụ, năm 2005, có điều tra nói số tiền DN phải trả thêm để được việc là 63% thì đến năm 2007 theo điều tra của VCCI con số này đã lên 66,4%.

Như vậy chống tham nhũng cần đem lại hiệu quả thiết thực cho từng người dân, DN chứ không chỉ là “đánh” vụ này, vụ kia. “Đánh” vụ này vụ kia cũng tốt vì loại bỏ được những tai hại, lãng phí nhưng mà điều quan trọng hơn là phải đổi mới quy chế, cải cách toàn diện và có giám sát tốt hơn, công khai minh bạch hơn để cho những người đó họ không dám tham nhũng, không thể tham nhũng và không cần tham nhũng.

Quay lại với đầu tư công, qua kiểm toán thanh tra đều thấy nhiều công trình đầu tư kém hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ cũng đã yêu cầu rà soát nhưng vấn đề là đằng sau những công trình như vậy có một số lợi ích: lợi ích của DN, địa phương và lợi ích ngầm của một vài người nào đó nữa. Lợi ích ngầm, cá nhân như vậy nên nhiều công trình biết là kém hiệu quả mà vẫn cứ cho làm. Chẳng hạn, đường Hồ Chí Minh đã làm ấy đã chở được bao nhiêu hàng hóa, mang lại bao nhiêu tăng trưởng GDP? Thế mà Nhà nước vẫn định xây dựng 102 hải cảng trong đó không có lấy một cảng trung chuyển quốc tế. Trong khi đó, lẽ ra chỉ cần tập trung phát triển vịnh Vân Phong (Khánh Hòa) làm cảng quốc tế thì có thể chở hàng từ Bắc Thái Lan, từ Myanmar, từ Lào sang Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…sẽ thu được lợi rất lớn.
Từ nay đến năm 2010, Bộ Kế hoạch-Đầu tư dự định dành hơn 1.370 nghìn tỷ đồng để xây dựng các công trình công thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, trong đó trên 960 nghìn tỷ đồng sẽ được đầu tư cho lĩnh vực kinh tế, trọng tâm là các ngành công nghiệp như điện, giấy, xi măng, than, hóa chất, cơ khí phục vụ nông nghiệp, đóng tàu, phát triển hệ thống giao thông...
Năm 2007, đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước chiếm gần 14% tổng đầu tư của toàn xã hội.


PV: Quyết định đầu tư công là do Chính phủ, vậy theo ông cơ quan nào đủ thẩm quyền giám sát và chế tài “chủ nhân” của các dự án lãng phí và bị chi phối bởi lợi ích ngầm?

TS LĐD: Cần công khai minh bạch, có tiêu chí rõ ràng, giao cho Quốc hội, các Hội đồng nhân dân và các tổ chức quần chúng giám sát. Theo tôi, để cắt giảm được công trình kém hiệu quả, cần đưa ra một khung tiêu chí cụ thể. Sau khi rà soát xem những công trình nào gần kết thúc, công trình nào có hiệu quả, công trình nào cấp bách, có thị trường… thì tiếp tục. Còn những công trình đã lâu không hoàn thành, thất thoát, lãng phí... thì nên có cơ chế bán lại cho chủ đầu tư có năng lực hơn. Những tiêu chí đó cần được đưa ra cho công luận để họ giám sát, chứ như bây giờ ngay cả thời hạn kết thúc mà người ta còn không chịu công bố cho dân biết thì làm sao giám sát được.

Chính phủ giờ cũng đã nhận thức được vấn đề và đang quyết tâm, rà soát, cắt giảm những dự án đầu tư công không hiệu quả.

PV: Nhưng ông có cho rằng, việc cắt giảm những công trình đầu tư công trong đó có nhiều dự án hạ tầng sẽ càng làm “chặt” thêm nút cổ chai của nền kinh tế, gây khó khăn cho phát triển kinh tế và thu hút, hấp thụ vốn FDI?

TS LĐD: Với tình hình hiện nay, các giải pháp phải mạnh, thậm chí phải chấp nhận chịu đau. Các nước họ đều đang rất khó khăn, chúng ta cũng không thể tự mãn, phải thấy trước được và quyết tâm làm tốt hơn. Theo tôi, nên cắt giảm đầu tư công, trung bình tỉ lệ cắt giảm chung phải từ 15-30% mới đối phó được lạm phát.

Về cơ sở hạ tầng thì đây là bài toán chiến lược dài hạn, cần có tầm nhìn. Tôi tin rằng việc cắt giảm sẽ không ảnh hưởng vì Chính phủ đủ tỉnh táo để chọn ra và loại bỏ những công trình kém hiệu quả. Đặt ra mục tiêu tăng trưởng để khích lệ kinh tế nhưng khi điều kiện tính toán thay đổi thì ta cũng nên thay đổi. Hãy dũng cảm để điều chỉnh, điều chỉnh là sáng suốt và vì lợi ích của đất nước.

Nên khuyến khích “tàn phá sáng tạo”

PV: Các thống kê đều cho thấy, khu vực kinh tế dân doanh chứ không phải kinh tế nhà nước đang là động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Các dự án nếu do tư nhân làm mà đổ bể thì họ phải bồi thường, đền tiền trong khi đơn vị của Nhà nước nhiều khi chỉ bị kiểm điểm, xử lý hành chính. Vậy tại sao không đấu thầu công khai các dự án đầu tư công cho mọi thành phần kinh tế tham gia?

TS LĐD: Triết lý cơ bản của kinh tế thị trường là phải cạnh tranh sòng phẳng. Ai giỏi, ai đem lại lợi ích cao nhất cho khách hàng thì người ấy được phát triển còn anh kém, mang lại chất lượng sản phẩm kém, giá thành cao thì thôi đi và điều đó đem lại sự lành mạnh cho thị trường. Cho nên, cần rà soát, nâng cao hiệu quả đầu tư, Nhà nước chỉ nên đầu tư vào những lĩnh vực nào thật cần thiết mà tư nhân không làm như vấn đề môi trường….Còn lại tất cả những gì tư nhân có thể làm thì hãy để họ làm, dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước và có sự hợp tác chặt chẽ giữa công và tư.

Cạnh tranh thì sẽ có doanh nghiệp phá sản và người ta vẫn gọi đó là sự “tàn phá sáng tạo” vì nhà máy còn đấy, nhà xưởng còn đấy, chỉ có ông chủ kém thì ông chủ đi. Ông chủ mới đến, sẽ đổi mới, người lao động cũng phải thay đổi.

Vấn đề là cần phải khắc phục độc quyền, cần phải giám sát độc quyền. Cái gì độc quyền quá lâu thì nó sẽ là lực cản với những tiến bộ của xã hội. Tóm lại chúng ta cần mạnh dạn đổi mới tư duy, vượt qua các lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ của mấy người sử dụng quan hệ quen biết, dàn xếp vốn cho tập đoàn này, tăng tín dụng cho tập đoàn kia, chỉ định thầu cho những doanh nghiệp mà không đem lại hiệu quả gì cả.

PV: Mặc dù vậy cũng phải thừa nhận thực tế là nhiều doanh nghiệp dân doanh làm ăn hiệu quả nhờ có quan hệ, thậm chí được lập ra để làm “sân sau” của “người nhà nước, để “đón đầu” những dự án đầu tư công?

TS LĐD: Thực tế việc phát triển của khối DN tư nhân và khối này tham gia làm dịch vụ, phụ trợ cho khối Nhà nước là rất đáng hoan nghênh nhưng vấn đề là quá trình đó cần công khai minh bạch chứ không phải kinh doanh nội gián kiểu bố giao việc cho con, chồng giao việc cho vợ hay lập ra công ty do bà mẹ vợ làm giám đốc nhưng lại thao túng tất cả….Do đó, việc thiếu công khai minh bạch và kinh doanh nội gián đó mới là điều đáng than phiền chứ còn họ lập ra để đón đầu dự án công cũng tốt thôi.

Thứ hai là dù nhà nước đã xác định tư nhân là khu vực động lực phát triển kinh tế, cái gì tư nhân làm được thì nên để tư nhân làm nhưng cũng không nên tuyệt đối hóa kinh tế tư nhân. Lý do là DN tư nhân ở ta còn nhỏ bé, còn nhiều nhược điểm. Mà làm sao mà không có nhiều nhược điểm được trong một môi trường phải dựa vào nhiều mối quan hệ, chạy cổng hậu... mà thậm chí đến doanh nghiệp nhà nước cũng không lành mạnh được?

PV: Theo ông, tỷ lệ kinh doanh nội gián để cùng “đục khoét” các dự án đầu tư công như vậy có nhiều không?

TS LĐD: Số liệu cụ thể thì cần có điều tra nhưng theo tôi cũng là nhiều đấy. Muốn biết, giờ chỉ cần xem họ tên của những ông bà nào được nhận những công trình béo bở đó, rồi truy ra xem có quan hệ thế nào với người ra quyết định. Chứ hiện nay có nhiều DNNN không lãi bao nhiêu nhưng DN sân sau thì lãi lớn lắm.

PV: Xin cảm ơn tiến sĩ!

Phan Hùng (Vietimes) thực hiện

Kinh tế năm 2008: Không thể tiếp tục lạc quan
http://vietnamnet.vn/kinhte/2008/05/782107/
Tăng trưởng GDP chỉ 6,7%, lạm phát lên đến 22,3% - đây là kịch bản bi quan nhất trong ba kịch bản dự báo về viễn cảnh kinh tế Việt Nam 2008 mới được Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đưa ra trong Báo cáo Kinh tế Việt Nam 2007 mới được công bố ngày 8/5 tại Hà Nội.


CIEM cho rằng, nhìn chung, trong năm 2008 nền kinh tế Việt Nam sẽ khó có thể tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao như năm 2007. Kết quả dự báo cũng cho thấy lạm phát tiếp tục đứng ở mức cao và cao hơn so với năm 2007 và nhập siêu còn lớn, chưa thể khắc phục trong ngắn hạn. Vì thế, các chuyên gia CIEM cho rằng, các mục tiêu tăng trưởng GDP và lạm phát năm 2008 cần được xem xét lại.

Không thể tiếp tục lạc quan

Cuối năm, khi cả nước đang say sưa với những thắng lợi kinh tế được cho là cao nhất trong 10 năm lại đây và đưa ra những mực tiêu rất cao là tăng trưởng GDP 8,5 - 9%, lạm phát ở mức 11 - 12%. Tuy nhiên, thực tế cho thấy những mục tiêu này rất khó thực hiện. Chính phủ đã buộc phải có những đề xuất điều chỉnh thực tế hơn. Trong dự báo của CIEM, cả ba kịch bản được đưa ra đều cho thấy tham vọng về phát triển kinh tế như trên đây là không thể.

Kịch bản cơ bản được đưa ra là GDP tăng trưởng 7,2%, lạm phát ở mức trung bình là 19,4%. Dự báo này được đưa ra dựa trên xu thế kinh tế thế giới tăng trưởng thấp hơn 2007. Tuy có chậm lại, nhưng khu vực châu Á và ASEAN vẫn giữ được mức tăng trưởng cao. Đây là những đối tác thương mại lớn của Việt Nam nên sự tác động qua lại với Việt Nam là rất lớn.

Các yếu tố khác để hình thành lên kịch bản cơ bản này là: giá dầu xấp xỉ 100 USD/thùng, giá nhập khẩu nguyên liệu và giá nông sản tăng 15%. Các khoản đầu tư ngân sách tăng 10%, giải ngân vốn FDI tăng 20%. Đồng thời, Việt Nam thực thi một chính sách kinh tế vĩ mô thận trọng thông qua chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá.

Trong khi đó, kịch bản được cho là lạc quan hơn cũng chỉ đưa mức tăng trưởng GDP lên 7,6% và lạm phát ở mức 16,7%. Điều này được dự báo trên giả thiết kinh tế thế giới không quá bi quan và khả năng giải ngân và hấp thụ vốn FDI của Việt Nam được cải thiện hơn. Các đối tác thương mại chính có sự tăng trưởng kinh tế khá hơn.

Ngược lại, một kịch bản bi quan hơn cũng được đưa ra, theo đó tốc độ tăng trưởng GDP xuống còn 6,7% và lạm phát lên đến 22,3%. Điều này có thể xảy ra với giả thiết các điều kiện kinh tế thế giới và yếu tố kinh tế nội tại bất lợi hơn so với kịch bản cơ bản. Cụ thể, các đối tác thương mại lớn tăng trưởng kinh tế rất thấp, khả năng giải ngân FDI không tăng...

Như vậy, với dự báo lạc quan nhất thì Việt Nam cũng còn xa mới đạt đến mức hy vọng 8,5% như đã đề ra.

Ông Võ Trí Thành - người được xem là tổng biên tập thực hiện báo cáo này, nêu quan điểm cá nhân cho rằng, bản thân ông nghiêng nhiều hơn về kịch bản GDP thấp hơn là những kịch bản lạc quan. Có nhiều lý do như: bối cảnh và diễn biến suy thoái kinh tế thế giới chưa rõ ràng và tiềm ẩn nhiều bất ổn. Nền kinh tế trong nước đang vấp phải những khó khăn không dễ giải quyết trong ngắn hạn. Mặc dù Chính phủ đã nhận thấy và đề ra những giải pháp khắc phục nhưng việc triển khai như thế nào trong thực tế lại là một vấn đề.

Ông Thành ví vón, những thành công năm 2007, Việt Nam được xem là "ngôi sao đang lên" nhưng với tình hình hiện tại nó có thể đang bị tạm thời bị "che lấp". Tuy nhiên điều đó cũng không có gì là qua lo lắng. Chính phủ cần tiếp tục thực hiện những gải pháp dài hạn như: khắc phục các nút thắt của nền kinh tế về thể chế, hạ tầng, nhân lực; thực hiện kiểm soát và ổn định kinh tế vĩ mô; phối hợp chính sách phát triển kinh tế với an sinh xã hội... nhằm từng bước ổn định, giảm lạm phát mà không gây ra những đổ vỡ, duy trì lòng tin của các nhà đầu tư.

Vào WTO, càng thể hiện rõ yếu kém

Một trong những yếu tố chi phối nổi bật đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam năm 2007 là việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên WTO và bắt đầu thực hiện các cam kết theo lộ trình. Bên cạnh những tác động thuận chiều thì một cảnh báo tiếp tục được các chuyên gia nhắc lại trong báo cáo này là việc gia nhập WTO càng làm lộ rõ hơn những yếu kém và bất cập cố hữu của nền kinh tế Việt Nam.

Trước hết về thể chế, báo cáo nhấn mạnh rằng sẽ còn rất nhiều việc phải làm để tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý cho phù hợp cam kết hội nhập và các chuẩn mực kinh tế thị trường. Còn những khoảng cách khá xa giữa thực tế và yêu cầu tính chuyên nghiệp, minh bạch và khả năng giải trình của các cơ quan nhà nước. Thể chế cho sự phát triển các thị trường yếu tố sản xuất vẫn trong giai đoạn cần tiếp tục có những chỉnh sửa.

Bên cạnh đó, sự hụt hẫng về kỹ năng nguồn nhân lực cũng đang ngáng trở tăng trưởng có chất lượng và phát triển bền vững. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực liên quan đến tất cả các nhóm xã hội, trong khi đó toàn bộ hệ thống giáo dục, đào tạo đang tỏ ra xa rời với hơi thở cuộc sống và thời đại.

Kết cấu hạ tầng yếu kém đã và đang gây nhiều tổn phí cho các hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội. Nguồn lực cần thiết cho phát triển kết cấu hạ tầng là rất lớn. Vì thế, các chuyên gia cho rằng, không thể không có tầm tầm nhìn xã rộng, những bản quy hoạch có hàm lượng chất xám và các hình thức hiệu quả trong huy động các nguồn lực.

Đây chính là 3 nút thắt cổ chai của nền kinh tế. Một dẫn chứng cho thấy, việc yếu kém về thể chế, hạ tầng và nhân lực đã hạn chế việc thực hiện vốn FDI. Tỷ lệ thực hiện FDI năm 2007 chỉ là 37,8% trong khi các năm trước đó đã đạt cao hơn.
Năm 2007, kinh tế Việt Nam lộ diện rõ ràng hơn những rủi ro bất ổn kinh tế vĩ mô. Lạm phát tính theo chỉ số tiêu dùng lên đến 12,63% là mức cao nhất từ 1997. Song có một thực tế là đến cuối 2007, Chính phủ vẫn chưa có những lập luận và giải trình hợp lý trong lựa chọn, về ngắn hạn, giữa mục tiêu tăng trưởng và kiềm chế lạm phát, dẫn đến sự lúng túng trong điều hành kinh tế vĩ mô, đặc biệt trong bối cảnh các luồng vốn đổ mạnh vào Việt Nam.


Việt Nam cần cuộc cách mạng mới về ruộng đất?
http://vietnamnet.vn/kinhte/2008/05/782146/
Thiệt thòi, tổn thương, bị gạt bên lề của sự phát triển, tiềm ẩn bất ổn... những cụm từ được nhắc nhiều nhất khi nói về số phận của người nông dân, nông thôn Việt Nam hiện nay. Một lần nữa, vấn đề này lại được đưa ra mổ xẻ tại một cuộc tọa đàm do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức mới đây.


Đất đai là gốc của vấn đề

GS-TS. Lê Duy Phong (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) nhận xét, nông dân đang là những người chịu nhiều thiệt thòi nhất, ít được thụ hưởng các thành quả của quá trình đổi mới. Lý giải điều này, GS. Phong cho rằng, nông dân đang thiếu các điều kiện và phương tiện để phát triển sản xuất, đảm bảo cuộc sống bình thường.

Theo GS. Phong, diện tích đất cho nông nghiệp quá chật hẹp. Cả nước có 12 triệu hộ gia đình, nhưng chỉ có 9,4 triệu ha đất nông nghiệp. Bình quân mỗi hộ chỉ 0,7-0,8ha, mỗi lao động 0,3ha và mỗi nhân khẩu 0,15ha. Ở Đồng bằng Bắc Bộ, con số này còn nhỏ hơn, chỉ 360m2/khẩu. Nếu chia ra, tất cả các hoạt động ăn, ở, đi lại, sinh hoạt hàng ngày của một người nông dân ở Bắc Bộ chỉ dựa vào... 1m2 đất.

Chưa kể, nông dân - đối tượng đông nhất trong xã hội - lại ít được đào tạo nghề nên tỷ lệ thất nghiệp ở mức báo động. Ông minh chứng, trên 83% lao động ở nông thôn chưa qua đào tạo bất kỳ chuyên môn gì (con số từ Bộ LĐTB-XH), trong khi tỷ lệ này ở thành thị là 49%. 20% lao động ở nông thôn thất nghiệp, tương đương khoảng 4,8 triệu người, cộng thêm hàng triệu thanh niên bước vào độ tuổi lao động mỗi năm.

Đáng lưu ý, khi mỗi ha đất nông nghiệp bị "xà xẻo" sẽ kéo theo 13 người rơi vào cảnh không có việc làm. Điển hình, mỗi năm, Hà Tây có 28.000-30.000 lao động đổ ra thành thị kiếm sống, trong khi con số này phải "Nam tiến" ở Quảng Nam là 46.000 người.

Cục Trồng trọt (Bộ NN-PTNT) cảnh báo, diện tích đất trồng lúa đang và vẫn tiếp tục giảm, nhất là vùng Đồng bằng sông Hồng do quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá. Giai đoạn 2002-2007, mỗi năm vùng này mất 7.500 ha đất/năm (0,67%), gần gấp hai lần tỷ lệ của cả nước.

Do vậy, tại cuộc tọa đàm “Những vấn đề xã hội của nông dân và nông thôn Việt Nam hiện nay”, TS. Vũ Tuấn Anh (Viện Kinh tế Việt Nam) đã đưa ra một cách nhìn nhận mới về vấn đề đất đai nông thôn hiện nay, đó là Việt Nam đang bước vào cuộc cách mạng ruộng đất mới - cuộc cách mạng lần thứ tư trong lịch sử, song Việt Nam chưa coi đó là một cuộc cách mạng.

TS. Tuấn Anh cho rằng, lịch sử nước ta đã từng tiến hành các cuộc cách mạng ruộng đất vào những năm 1950-1960, thời kỳ hợp tác hoá, Khoán 10 và bây giờ là cuộc cách mạng mới khi có sự phân bổ lớn lại ruộng đất. Ông khuyến cáo, cải cách ruộng đất với mật độ dày đặc (15 năm/lần) đã làm đảo lộn rất lớn đến cuộc sống của người dân, trong đó chỉ hai cuộc người dân được đất và hai cuộc bị mất đất.

Cuộc cách mạng ngày nay, chính là một cuộc cách mạng mà người nông dân bị mất đất, bằng chứng là trong vòng 5 năm (2000-2005), đã có 2 triệu hộ gia đình ít, nhiều đã bị thu hồi đất. TS. Tuấn Anh chỉ ra rằng, chúng ta đang rất thụ động trong cuộc cách mạng này, và chỉ chập chững chuẩn bị đối phó là chính mà chưa coi đó là cuộc cách mạng. Vai trò của chính quyền địa phương trong việc giao đất quá lớn, trong khi chính quyền TƯ lại buông lỏng quản lý. Chính vì được tiến hành một cách tự phát, địa vị người dân gần như không có, nên họ không có quyền đàm phán, buộc phải phục tùng, chấp nhận.

Hệ quả, về lâu dài, sẽ tạo thành một sự mâu thuẫn trong xã hội, âm ỉ rồi dần bùng phát mà điển hình là các vụ khiếu kiện của người dân hấu hết đều liên quan đến đất đai. "Với cách lấy đất như hiện nay, đất đai cả nước đang dần bị băm nát, ruộng đất của dân cũng bị băm nát, hậu quả sẽ rất nặng nề", TS. Tuấn Anh lo ngại.

Cần cái nhìn sâu hơn về nông thôn, nông dân

Do bản chất phức tạp, nhiều chiều của chủ thể tam nông (nông nghiệp - nông thôn - nông dân) nên sẽ không đầy đủ nếu chúng ta quá thiên về khía cạnh kinh tế (nông nghiệp) mà "bỏ quên" cái nhìn xã hội, tức là nông thôn và nông dân - GS. Trịnh Duy Luân - Viện trưởng Viện Xã hội học (Viện Khoa học Xã hội) thẳng thắn.

Chính vì chưa có sự hài hòa, lồng ghép giữa hai yếu tố kinh tế - xã hội nên chúng ta đang xử lý thụ động các vấn đề phát sinh trong đời sống nông thôn Việt Nam.

"Vị thế của người nông dân trong cấu trúc xã hội đã thay đổi, cần có cách ứng xử mới, không nên lạm dụng, vắt kiệt mà đền bù không tương xứng", GS. Luân nói. “Người nông dân đã biết sản xuất, biết tính toán, nên chúng ta không chỉ cứ lấy đi của họ 1 sào đất rồi đền bù là xong, mà cần phải thực hiện các chính sách an dân và hỗ trợ nhiều hơn, coi nông dân như một nhóm lợi ích xã hội”.

Ngoài ra, theo GS. Luân, cần cảnh báo cho họ những thay đổi trong quá trình phát triển, chuẩn bị chiến lược đối phó với những mâu thuẫn, xung đột xảy ra trong thời kỳ mới. Còn GS.TS. Lê Duy Phong kiến nghị nên sớm sửa đổi Luật Đất đai để những người biết làm ăn trên quy mô lớn có thể tích tụ ruộng, sản xuất hàng hoá lớn.

Một vấn đề khác cũng được các nhà khoa học cảnh báo, đó là mối quan hệ giữa con người với con người ở nông thôn.

PGS-TS. Vũ Mạnh Lợi (Viện Xã hội học) chỉ ra rằng, một bộ phận lớn nông dân đổ ra thành thị đã làm mối nối kết cộng đồng trong xã hội nông thôn trở nên lỏng lẻo. Ông đánh giá, mối quan hệ giữa người với người ở nông thôn bắt đầu rã đám. Họ sống theo kiểu "nhà nào biết nhà ấy", không chịu bất kỳ một sức ép nào để điều chỉnh hành vi, lối sống có chuẩn mực của mình, dẫn tới tình trạng an ninh xã hội khó kiểm soát.

TS. Lợi đề xuất, cần nâng cao vai trò của các loại hình hợp tác xã và rất cần một cơ chế, chính sách lôi cuốn các tổ chức xã hội tham gia vào cộng đồng làng xã, để dân tự lo liệu. Ông cho rằng, quản lý Nhà nước của ta đang rất yếu kém khi muốn làm cho dân nhiều song không làm nổi. Do vậy, cần có cách nhìn mới về quản lý con người, theo một cách năng động hơn.

* Hà Yên




Theo dòng thời gian (5)

Hàng loạt dấu hiệu bất ổn trong năm 2008!?

Thủ tướng yêu cầu ưu tiên kiềm chế lạm phát
25/3, Chính phủ đã họp phiên thường kỳ tháng 3 nhằm đưa ra các giải pháp ưu tiên kiềm chế lạm phát, đồng thời duy trì khả năng tăng trưởng của nền kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội.


Các thành viên Chính phủ đã tập trung thảo luận sâu về mục tiêu kiểm soát lạm phát, trong đó thực hiện 8 nhóm giải pháp để đảm bảo tăng trưởng bền vững như: thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ chủ động và linh hoạt, tăng thu ngân sách và thắt chặt chi tiêu công, tăng cường quản lý thị trường giá cả, đẩy mạnh xuất khẩu và giảm nhập siêu, tháo gỡ đảm bảo sản xuất kinh doanh và tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ cho người nghèo.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, trong bối cảnh hiện nay kinh tế tăng trưởng khá nhưng có dấu hiệu giảm do tình hình lạm phát tăng, nhập siêu, thị trường chứng khoán sụt giảm đang đe dọa đến nền kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân.

Thủ tướng đề nghị các thành viên Chính phủ tập trung ưu tiên kiềm chế lạm phát, đồng thời điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng và kiềm chế lạm phát phù hợp thích hợp với tình hình mới. Theo đó, cần chỉ đạo quyết liệt thực hiện 8 nhóm giải pháp, trong đó thắt chặt chính sách tiền tệ, tiết kiệm đầu tư công, kiểm soát nhập siêu...

Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt, nắm sát thị trường để thực hiện các giải pháp gắn với thị trường, thực hiện an toàn hệ thống và điều hành chính sách công khai minh bạch và phối hợp với các bộ ngành chức năng thực hiện các giải pháp (cho vay và lãi suất) không gây ách tắc các hoạt động sản xuất kinh doanh, cân đối cung cầu hàng hoá, nhất là các mặt hàng thiết yếu đảm bảo sản xuất và đời sống như xăng, dầu, phân bón...Trước mắt, Chính phủ bù lỗ giá điện và xăng dầu.

Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành chức năng rà soát lại các dự án đầu tư, loại bỏ các dự án không hiệu quả, tiết kiệm chi tiêu công nhằm giảm bội chi ngân sách, đồng thời kêu gọi nhân dân hạn chế tiêu dùng. Theo dõi sát diễn biến của thị trường và biến động giá, đẩy mạnh cung hàng hóa và quản lý chặt chẽ các mặt hàng không cho phép đầu cơ tăng giá, đẩy mạnh xuất khẩu về cả mặt hàng và thị trường, quyết liệt kiểm soát tình trạng nhập siêu và tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp thúc đẩy sản xuất...

Thủ tướng gợi ý các Bộ ngành phát huy tiềm năng thế mạnh trong từng lĩnh vực để chỉ đạo sản xuất và để đẩy mạnh xuất khẩu nhằm kiềm chế lạm phát và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Thủ tướng chỉ đạo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội rà soát lại các chương trình mục tiêu để hỗ trợ người có thu nhập thấp và người nghèo để giữ vững an sinh xã hội.

(Theo TTXVN)

Quý I/2008: Chỉ số giá tiêu dùng đã tăng trên 9%
http://vietnamnet.vn/kinhte/2008/03/775108/
Số liệu sơ bộ của Bộ Kế hoạch - Đầu tư cho biết, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2008 so với tháng 12/2007 đã tăng 9,19%.


Trong các nhóm hàng hóa, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất với mức tăng 14,45%; nhóm nhà ở - vật liệu xây dựng tăng 8%; phương tiện đi lại và bưu điện tăng 7,32%; các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng thấp nhất là 0,6% và cao nhất là 4,38%.

Nếu tính chỉ số giá tiêu dùng bình quân 3 tháng đầu năm 2008 so với cùng kỳ năm 2007 thì đã tăng 16,38%. Trong đó, 4 nhóm hàng hóa tăng cao nhất vẫn là hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 25,92%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 17,94%; phương tiện đi lại và bưu điện tăng 10,05%; đồ dùng và các dịch vụ khác tăng 11,94%; các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác còn lại tăng từ 2 - 7,73%.

Trong khi đó, chỉ số giá vàng bình quân 3 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước tăng 40,5%; chỉ số VND so với USD giảm 0,52%. Được biết, VND đã lên giá so với USD chủ yếu là do cán cân thanh toán quốc tế thặng dư lớn.

Có thể thấy, trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt thấp hơn mục tiêu đề ra thì lạm phát đang tiếp tục xu hướng tăng cao hơn dự báo. Với đà này, rất khó có thể kìm giữ lạm phát đứng ở mức thấp hơn tăng trưởng kinh tế như mục tiêu đã đề ra.

Không sợ giảm mục tiêu tăng trưởng xuống 7,5%
http://tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay/3301/index.aspx
Chính phủ vừa cho thấy tín hiệu sẽ tập trung ưu tiên kiềm chế lạm phát và điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng phù hợp thích hợp với tình hình mới. Vậy các giải pháp tài chính và tài khóa sẽ ảnh hưởng thế nào đến tốc độ tăng trưởng? TS. Võ Trí Thành và TS. Nguyễn Đình Cung chia sẻ quan điểm.


TS. Võ Trí Thành, Trưởng ban Hội nhập kinh tế quốc tế (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương - CIEM):

Chống lạm phát bằng mệnh lệnh hành chính?

Trong bối cảnh hiện nay, không thể có một chính sách vĩ mô hoàn hảo theo nghĩa luôn có tác động tích cực cùng chiều. Không dễ để có một chính sách thỏa mãn cho tất cả nhóm lợi ích.

Cách đây 4 tháng, Thống đốc Ngân hàng Trung Quốc đã nói: "Nếu Trung Quốc vẫn tiếp tục hứng khởi tăng trưởng thì sẽ khủng hoảng". Và bây giờ thì họ đã hạ mục tiêu tăng trưởng xuống.

Trung Quốc năm ngoái lạm phát mới 6% mà kỳ họp Quốc hội tuần trước đã quyết định kéo tốc độ tăng trưởng kinh tế từ gần 11% của năm 2007 xuống còn 8% của năm nay.

Với Việt Nam, giải pháp tốt nhất hiện nay là phải phối hợp nhiều chính sách, đặc biệt hệ thống quản trị rủi ro và giám sát tài chính. Mục tiêu phải là ổn định kinh tế vĩ mô. Cụ thể là phải ổn định thị trường tài chính và làm sao cho thị trường bất động sản hạ nhiệt một cách tích cực... Những biện pháp quan trọng khác của chính sách tỷ giá như thắt chặt tiền tệ, giảm chi tiêu ngân sách cũng là những giải pháp tốt.

Tuy nhiên, thực hiện điều này không dễ dàng. Nói là cắt giảm dự án đầu tư kém hiệu quả thì dễ nhưng xác định dự án nào kém hiệu quả rất khó, mất nhiều thời gian.

Tiềm năng kinh tế của Việt Nam dựa trên một nền tảng tốt. Việc cắt giảm chi tiêu công cũng phải vượt lên trên lợi ích nhóm và đòi hỏi phải có thời gian. Chi tiêu công đang chiếm gần 45% tổng đầu tư, khi điều chỉnh có thể sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng.

DN và nhà đầu tư không sợ tăng trưởng giảm xuống còn 7% hay 7,5% mà chỉ sợ với sự rối bời hiện nay sẽ ảnh hưởng đến nhà đầu tư, gây ra sự đảo chiều về vốn, điều này còn nguy hiểm hơn cả lạm phát.

Hiện Ngân hàng Nhà nước đã chủ động trong chống lạm phát nhưng vẫn còn rời rạc, đơn thương độc mã, không có sự phối hợp với các biện pháp khác. Khó khăn hơn, chúng ta đang buộc phải quay lại với mệnh lệnh hành chính để chống lạm phát. Tuy nhiên, đây sẽ chỉ là biện pháp tạm thời, rất khó gỡ bỏ.

TS. Nguyễn Đình Cung, Trưởng ban Chính sách kinh tế Vĩ mô CIEM:

Đây là thời điểm biến thách thức thành cơ hội

Việt Nam lâu nay tăng trưởng cao, với phương thức phát triển chủ yếu dựa vào đầu vào, thiên về số lượng. Đây là thời điểm biến thách thức thành cơ hội phát triển dựa trên năng suất và hiệu quả. Tuy nhiên, thay đổi phương thức phát triển đòi hỏi nhiều thời gian. Lâu nay, do tốc độ tăng trưởng đang lên nên không ai muốn thay đổi vì sợ rủi ro.

Có một quy luật là hình như khi bước vào khủng hoảng chúng ta mới có điều kiện để phát triển. Vì đây là thời điểm nhìn thấy cơ hội.

Tuy nhiên, một số nhóm giải pháp vừa rồi vẫn còn ngắn hạn, chưa toàn diện. Trong lúc này nên có một chương trình tổng thể về cải cách vừa tính chuyện giảm lạm phát trước mắt vừa cho mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn. Hiện nhiều chỉ thị, chính sách vẫn chạy theo các nhóm lợi ích.

Phát triển phải cân bằng vì nếu tập trung nguồn lực vào một nơi sẽ không tốt. Trong lĩnh vực điều hành kinh tế, Nhà nước đừng can thiệp hành chính, chỉ nên giữ vai trò điều hành kinh tế... Do đòi hỏi cấp bách nên chúng ta đã có những can thiệp cụ thể, song đó chỉ là biện pháp ngắn hạn, cần nhìn lại để rút kinh nghiệm.

Trong bối cảnh này, giải pháp tiền tệ đã áp dụng, thì nên áp dụng cả biện pháp tài khóa. Tất nhiên, đầu tư sẽ giảm xuống và một trong những nhân tố tăng trưởng là đầu tư. Các giải pháp thắt chặt như vậy sẽ khiến chúng ta không đạt được tốc độ tăng trưởng ở mức 9% như Nghị quyết QH đề ra. Điều chỉnh tăng trưởng ở mức 7-7,5% đã là hiệu quả.
Thắt chặt chi tiêu công là giải pháp tất yếu. Ví dụ rà soát, cắt giảm đầu tư công, tôi cho là nên làm ngay tức khắc, tất cả cơ quan, bộ ngành, tổng công ty, địa phương đều cắt giảm 20% trong tổng mức đầu tư. Người cắt giảm là người ra quyết định đầu tư, không cần phải chờ đợi một tiêu chí rà soát nào.

Để ban hành ra được tiêu chí sẽ mất nhiều thời gian. Thứ hai, tiêu chí ban hành chắc gì đã cụ thể, mà như thế sẽ được hiểu theo nhiều cách, dẫn đến nguy cơ vừa kéo dài, vừa khó cắt.

Chi thường xuyên của các bộ, ngành chủ yếu là lương, không thể cắt. Cái có thể cắt là chi tiếp khách, mua sắm thiết bị, làm lại nội thất... Cần có qui định cụ thể về chi tiêu những khoản này trong điều kiện mới. Chủ trương tiết kiệm điện, nhiên liệu cũng nên được cụ thể hóa.

Phó Thủ tướng: Đạt tăng trưởng 7,5% là cao
"Tăng trưởng năm nay nếu đạt 7,5% đã là cao. Chính phủ sẽ cân nhắc để điều chỉnh lại chỉ số tăng trưởng trước khi trình ra QH tại phiên họp thứ 3, QH khóa XII sắp tới", Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng khẳng định, trong cuộc họp báo Chính phủ thường kỳ chiều nay (27/3).


Theo Phó Thủ tướng, trong tình hình hiện nay, rất khó khăn để đạt mục tiêu tăng trưởng như Nghị quyết QH đề ra, đó là lạm phát sẽ thấp hơn tăng trưởng và mục tiêu tăng trưởng sẽ đạt 8,5% - 9%.

Vì, đến hôm nay, thống kê của Bộ Kế hoạch - Đầu tư cho thấy, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2008 so với tháng 12/2007 đã tăng 9,19%. Nếu tính chỉ số giá tiêu dùng bình quân 3 tháng đầu năm 2008 so với cùng kỳ năm 2007 thì đã tăng 16,38%.

Chính phủ khẳng định quyết tâm ưu tiên chống lạm phát nhưng phải đảm bảo an sinh xã hội. Ngày 25/3 mới đây, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã vừa ký quyết định chi ngân sách 30.000 tỷ để hỗ trợ học sinh, sinh viên nghèo vay vốn học tập trong vòng 5 năm tới. Ngư dân cũng đã được hỗ trợ để mua tàu mới và bù giá nhiên liệu. Người nghèo, đối tượng chính sách được hỗ trợ tiền thắp sáng...

Có mặt tại cuộc họp, đại diện Bộ Tài chính cho biết, sẽ không tăng học phí khối ĐH, CĐ trong năm tới. Bộ cũng vừa có công văn gửi UBND Hà Nội đề nghị lùi thời điểm tăng giá nước sạch. Trước đó liên ngành Giao thông, Tài chính Hà Nội đã đề xuất tăng giá nước.

Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng khẳng định, doanh nghiệp và người dân phải cùng sát cánh trong cuộc chiến chống lạm phát. Cụ thể, doanh nghiệp sẽ phải tính toán lại chiến lược đầu tư, kinh doanh nhằm tìm đúng thị trường có lợi nhất.

Sắp tới, Chính phủ sẽ họp với các Tổng Công ty 91, các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp để cân nhắc việc không được tăng giá đồng loạt. Đầu tháng 4, Chính phủ cũng sẽ tiến hành họp với các địa phương trên toàn quốc nhằm tạo sự đồng thuận trong thực hiện các biện pháp chống lạm phát, tạo đà tăng trưởng cho các giai đoạn về sau.

Cắt giảm 10% các khoản chi thường xuyên

Liên quan đến biện pháp thắt chặt chi tiêu công, Phó Thủ tướng nói, dự kiến sẽ cắt giảm 10% các khoản chi thường xuyên như điện nước, hành chính.

Trong việc rà soát lại các dự án đầu tư kém hiệu quả, Phó Thủ tướng khẳng định, sẽ không cắt giảm tổng vốn đầu tư từ ngân sách. Nhưng trong mức đầu tư đã dự kiến, Chính phủ sẽ phân loại để tập trung cho những dự án đã giải phóng xong mặt bằng, những công trình sắp hoàn thành tiến độ.

Cũng tại buổi họp báo, trả lời câu hỏi của PV VietNamNet về năng lực chịu trách nhiệm và tính độc lập của Ủy ban Giám sát tài chính QG trong bối cảnh lạm phát, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cho biết, Chính phủ đang tổ chức lựa chọn nhân sự để ủy ban này đi vào hoạt động, "cơ quan này chỉ cần ít người nhưng sẽ chọn lọc những người tinh nhất, trình độ chuyên môn cao nhất".

Theo Phó Thủ tướng, khác với Hội đồng tư vấn tài chính QG chỉ có chức năng tư vấn, Ủy ban này sẽ làm nhiệm vụ tập hợp để hình thành nên hệ thống thông tin giám sát trên toàn quốc. Nếu cần thiết, ủy ban sẽ đi giám sát hoạt động tài chính của các cơ quan, ban ngành mà Chính phủ yêu cầu.

Không "hãm phanh" mà cần duy trì tăng trưởng
Chuyên gia của ESCAP cho rằng, Việt Nam hiện chưa có những dấu hiệu của khủng hoảng kinh tế châu Á 1997. Chống lạm phát là chìa khóa, ưu tiên chính sách nhưng không cần "hãm phanh" mà cần duy trì tăng trưởng.


VN không có dấu hiệu của khủng hoảng châu Á 1997

Bản báo cáo của ESCAP mang tên: "Duy trì tăng trưởng và chia sẻ lợi ích" công bố sáng 27/3 đã đánh giá những triển vọng và thách thức chính ngắn hạn và trung hạn về kinh tế vĩ mô và một số lĩnh vực xã hội của khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Trả lời câu hỏi: Liệu Việt Nam có đang đứng trước chu kỳ khủng hoảng kinh tế sau hơn 20 phát triển nhanh? TS. Amarakoon Bandara cho rằng, hiện Việt Nam không có những dấu hiệu điển hình của các nền kinh tế châu Á trước khủng hoảng 1997. Thâm hụt tài khoản vãng lai chưa vượt quá mức cho phép. Nhập siêu tăng cao nhưng chủ yếu phục vụ sản xuất. Các dòng vốn đổ vào Việt Nam lớn, chủ yếu là FDI, không sinh nợ, ODA và các khoản chuyển khoản tư nhân, tạo dư thừa cán cân thanh toán lành mạnh, đồng thời tích lũy lượng lớn dự trữ ngoại tệ.

Việt Nam cũng đã hạn chế mức độ phụ thuộc vào việc tài trợ của ngân hàng xuyên quốc gia và đã nâng cao khả năng ngành ngân hàng của mình. Nhờ đó, sức chống đỡ của nền kinh tế sẽ lớn hơn.

Tuy nhiên, các chuyên gia ESCAP cũng thẳng thắn nhìn nhận, hiện nay, lạm phát là vấn đề Việt Nam cần đặc biệt quan tâm. Lạm phát năm 2007 ở mức 12,6% và khả năng năm 2008 không giảm, gấp 2 lần Indonesia và không thể so sánh với các nước lạm phát thấp như Singapore, Malaysia.

Theo bà Phạm Lan Hương, Phó Ban Kinh tế Hội nhập, Viện Quản lý Kinh tế Trung ương CIEM, lạm phát không hẳn do tăng trưởng kinh tế cao, vì Campuchia tăng trưởng kinh tế năm 2007 cao hơn Việt Nam nhưng lạm phát chỉ ở mức 5%. Tăng trưởng và lạm phát không đồng hành nhưng liên đới với nhau và mức gắn kết tùy thuộc vào bối cảnh từng nước.

Về ý kiến của Giáo sư Kenichi Ohno về việc Việt Nam cần "hãm phanh" kinh tế để tránh đổ vỡ, bà Lan Hương cho rằng, không hẳn cần hãm phanh nhưng cần đặt mục tiêu duy trì tăng trưởng.

Theo TS Bandara, lạm phát chắc chắn sẽ làm chậm lại tốc độ tăng trưởng kinh tế, quan trọng là xem mức độ tác động như thế nào. Theo bà Hương, năm 2008, Việt Nam "đạt chỉ số tăng trưởng kinh tế như năm 2006, 2007 đã là may mắn rồi". Chính phủ hiện đã đưa ra nhiều giải pháp để giải quyết câu chuyện lạm phát và duy trì tăng trưởng.

Nhu cầu nội địa lớn hạn chế tác động bất ổn kinh tế thế giới

Theo các chuyên gia ESCAP, tình hình kinh tế Việt Nam nằm trong bức tranh chung của kinh tế Đông Á.

Kinh tế khu vực này đã xuất hiện những "đám mây u ám ở phía chân trời". "Cái bóng bao phủ bởi tình hình suy thoái của kinh tế Mỹ rất dài, dẫn đến những bất trắc ở phía trước". Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng vay nợ, tình trạng suy thoái của kinh tế Mỹ và rối loạn tiếp theo trên thị trường tài chính vẫn chưa thể dập tắt.

Theo báo cáo, kịch bản xấu nhất xảy ra, sự suy thoái kinh tế Mỹ và đồng đô la tiếp tục giảm giá, hầu hết các nước trong khu vực sẽ có tác động lớn, đặc biệt khi suy thoái lan sang châu Âu. Những nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu dễ bị tổn thương.

Cả EU và Mỹ cộng lại là những thị trường lớn của các nền kinh tế khu vực Đông Á - Thái Bình Dương. Các nước sẽ chịu hai cú đòn một lúc: cầu giảm và các mặt hàng xuất khẩu sang Mỹ có mức cạnh tranh giảm, cùng với luồng vốn lớn có thể chảy khỏi khu vực do lo ngại về tình hình tăng trưởng.

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng khá lạc quan về tương lai kinh tế khu vực. Nhu cầu nội địa lớn có tác dụng hạn chế tác động của những bất ổn kinh tế thế giới. Tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển ở khu vực còn khá cao, 7,7% vào năm 2008. Kinh tế Trung Quốc, Ấn Độ vẫn tiếp tục tăng trưởng, là động lực kinh tế cho khu vực.

"Đưa nông nghiệp trở về đúng vị trí" để giúp người nghèo

Các chuyên gia dự báo, các nước vẫn có thể đảm bảo đủ sức mạnh và sự linh hoạt để đương đầu với những cú sốc và thích nghi với mọi biến cố về các dòng tài chính. Điều đáng quan ngại là những chấn động kinh tế sẽ ảnh hưởng nặng tới người nghèo và những người dễ tổn thương.

Chính phủ các nước cần khẩn trương giảm nhẹ tác động, trong đó nông nghiệp cần được xem là ưu tiên để hỗ trợ người nghèo tốt nhất.

Điều này, đòi hỏi phải có định hướng thị trường với trọng tâm nâng cao năng suất nông nghiệp. Ngoài ra, cần đổi mới chính sách về ruộng đất, kết nối dân nghèo nông thôn với thành phố và thị trường, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân vay vốn và tiếp cận với dịch vụ bảo hiểm cây trồng.

Đồng thời, cần đa dạng hóa các kỹ năng bằng cách nâng cao vị thế, năng lực cho người nghèo, đặc biệt là phụ nữ, nâng cao khả năng nắm bắt, khai thác các cơ hội trên thị trường lao động cũng như bằng cách tăng cường các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn và các trung tâm tăng trưởng khu vực.

Đối với Việt Nam, việc chậm ứng dụng công nghệ, các ngành chế biến nông sản phát triển chậm, thiên tai và giá nông sản quốc tế không thuận lợi là những yếu tố cản trở sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp.

Bàn các biện pháp thúc đẩy nông nghiệp là biện pháp tốt nhất để hỗ trợ người nghèo trong tình hình hiện nay, bà Phạm Lan Hương, Phó Ban Kinh tế hội nhập, CIEM nói.

Hiện nay, đây là điểm không ổn trong tiếp cận kinh tế của khu vực. Thời gian qua, nông nghiệp không được chú ý đúng mức, mặc dù nó cung cấp việc làm cho 60% lao động và là chỗ dựa của đại đa số người nghèo trong khu vực. Mức tăng trưởng và năng suất trong ngành nông nghiệp đã giảm sút, cuộc cách mạng xanh dường như đã bỏ sót hàng triệu người.

Nếu tăng năng suất bình quân trong toàn khu vực thì có thể giúp cho 218 triệu người dân, tức là 1/3 người nghèo trong khu vực, thoát khỏi nghèo đói. Những nước được hưởng lợi nhiều nhất là Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia và Bănglađét. Tự do hóa toàn diện thương mại nông nghiệp toàn cầu sẽ giúp thêm 48 - 51 triệu người trong khu vực thoát khỏi nghèo đói.

Theo dòng thời gian (4)

2008
Kinh tế VN - Đến lúc "hãm phanh" để tránh khủng hoảng
http://www.tuanvietnam.net//vn/sukiennonghomnay/3289/index.aspx
Giáo sư Kenichi Ohno, Viện Nghiên cứu chính sách Nhật Bản cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần áp dụng cách thức "hạ cánh êm ái", "hãm phanh" nền kinh tế, quản lý chặt tài khoản vốn, xem xét các dòng vốn chứng khoán hoặc vay ngắn hạn...


"Hãm phanh" kinh tế để không bị sụp đổ

- Việt Nam đang gặp phải hàng loạt vấn đề trong điều hành kinh tế vĩ mô. Ông có bình luận gì, thưa Giáo sư?

Đó là điều bình thường với một quốc gia nhận được quá nhiều vốn so với GDP. Điều này cũng xảy ra ở Trung Quốc, mặc dù nguồn vốn của Trung Quốc khác Việt Nam, chủ yếu do xuất khẩu quá nhiều, thu hút lượng FDI lớn. Với Nga, Kuwait nguồn vốn chủ yếu do xuất khẩu dầu lửa...

Cùng với nguồn vốn vào lớn, tiêu dùng, xây dựng bùng nổ, khủng hoảng có thể xảy ra, lạm phát... Đó không phải là vấn đề của riêng Việt Nam, ngay cả ở châu Phi, tại Nigeria, Mozambic, Zambia cũng tồn tại. Làm thế nào để giải quyết? Có hai việc Chính phủ có thể làm:

Một là hãm phanh phát triển kinh tế, dùng các biện pháp vĩ mô để nền kinh tế không bị phát triển nóng và sụp đổ. Cần để nền kinh tế tăng trưởng chậm và đi xuống chậm, hay còn gọi là "hạ cánh êm ái" (soft landing).

Điểm thứ hai là áp dụng các biện pháp quản lý dòng vốn. Nhiều vốn quá cũng không tốt. Đôi khi bạn cần phải dự trữ vốn, không đưa vào sử dụng. Trung Quốc dự trữ qua ngân hàng trung ương, Kazactan bỏ tiền thu từ dầu lửa vào quỹ dầu lửa, không sử dụng ngay. Có lẽ Việt Nam cần một quỹ như vậy, mặc dù FDI hay ngoại hối là tiền tư nhân, do đó không dễ dàng bỏ vào quỹ công.

Việt Nam nên bắt đầu thảo luận về việc này bởi vì các bạn bắt đầu gặp phải vấn đề về tài khoản vốn. Đây là vấn đề mới với Việt Nam nhưng là vấn đề xảy ra với các nước khác. Việt Nam nên học tập kinh nghiệm các nước để không nhận quá nhiều, và khi đã nhận có thể để nguồn vốn sang một bên, không gây hiện tượng quá nóng trong nền kinh tế.

Học nói "không" để Việt Nam không thành "bãi rác công nghệ"

- Phải chăng nguồn vốn quá lớn so với GDP vì Việt Nam đã khá dễ dãi trong chấp thuận đầu tư? Nên chăng Việt Nam cần học nói "không" đối với các nhà đầu tư, thay vì chỉ biết nói có như hiện nay?

Trong một số tình huống, Việt Nam không nên chấp thuận cho phép đầu tư. Ví dụ, dự án thép khá lớn của một DN chưa từng hoạt động trong ngành thép đang xin đầu tư vào Việt Nam chẳng hạn.

Tuy nhiên, về cơ bản, những dự án FDI khá tốt và Việt Nam nên chấp thuận tất cả các dạng dự án, trừ những dự án bất khả thi, gây hại cho môi trường, hoặc gây hại cho an ninh quốc gia.

- Với việc chấp thuận khá nhiều dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm cho môi trường, liệu Việt Nam có thể trở thành "bãi rác công nghệ" của khu vực?

Đúng vậy. Môi trường là một trong những lí do để từ chối các dự án đầu tư. Tôi đã nghe một số khuyến nghị liên quan đến môi trường trong dự án thép Posco ở Vân Phong. Các bạn cần cân nhắc, đảm bảo rằng dự án sẽ không kéo theo những nguy hiểm cho môi trường, bóc lột sức lao động...

Tuy nhiên, theo tôi, điều Việt Nam cần quan ngại không phải là FDI mà chính là dòng vốn chứng khoán. Một năm trở lại đây, Việt Nam bắt đầu mở cửa thị trường này cho nước ngoài tham gia. Khi thị trường lên hay xuống, dòng vốn sẽ chảy ra hoặc chảy vào. Nguồn vốn này nguy hiểm hơn nhiều so với FDI.

Các khoản vay ngân hàng ngắn hạn cũng nguy hiểm, có thể dẫn đến khủng hoảng như đã từng xảy ra ở Chile, Argentina, Nga cũng như khủng hoảng châu Á 1997.

- Điểm cần quan ngại là gì, thưa ông?

FDI không gây ra khủng hoảng kinh tế - tài chính mà chính dòng vốn chứng khoán, vốn vay ngắn hạn mới là nguyên nhân. Việt Nam nên cẩn trọng trong thâu nhập dòng vốn đầu tư này.

Cùng với ngoại hối, một lượng cầu tiền lớn từ nước ngoài: FDI, ODA, vốn chứng khoán, ngoại hối... trong tương quan với GDP sẽ gây khó khăn trong quản lý vĩ mô.

Tất nhiên, Việt Nam muốn có nguồn vốn này, nhưng các bạn sẽ không muốn dòng vốn này bất ổn, gây nguy hiểm cho quản lý kinh tế vĩ mô.

Nếu rơi vào khủng hoảng, nền kinh tế của Việt Nam sẽ kéo lùi lại nhiều năm và người dân sẽ bị tác động lớn. Việt Nam không muốn điều này.

Từ trước tới nay, Việt Nam chưa cần lo lắng, vì các bạn vẫn còn là một thị trường đóng trong lĩnh vực tài chính. Nhưng ngân hàng trung ương, Bộ Kế hoạch - Đầu tư, và các cơ quan liên quan của Việt Nam cần bắt đầu tính đến những dòng vốn bất ổn đó.

Hơn cả WTO, chính thị trường tài chính sẽ thách thức chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Các bạn sẽ đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức hơn.

Mở cửa thị trường tài chính 100% ngay sẽ nguy hiểm

- Liệu Việt Nam đã sẵn sàng để mở cửa thị trường tài chính chưa?

Tôi cho rằng Việt Nam đã sẵn sàng. Các bạn đã phát hành trái phiếu Chính phủ ra nước ngoài, mở cửa thị trường chứng khoán... Tuy nhiên, trước hết, Việt Nam phải tiến hành từng bước, không thể ngay lập tức mở cửa 100% bởi sẽ rất nguy hiểm.

Hai là, khi đã mở cửa, các bạn cần một cơ chế tiền tệ để quản lý việc liệu các ngân hàng cho vay đầu tư bất động sản, hoặc cho khách hàng vay quá nhiều trong khi khả năng thanh toán hạn chế...

Nếu thấy dấu hiệu của bất ổn, Việt Nam điều chỉnh bằng nhiều chính sách: Chính sách tài khóa sẽ trực tiếp hơn. Chính sách tiền tệ cần thắt chặt... Các cơ quan có liên quan cần đưa ra những quy định chặt hơn. Ví dụ, Việt Nam đưa ra quy định các nhà đầu tư phải ở Việt Nam ít nhất 6 tháng. Điều này tạo nên một thị trường không hoàn toàn tự do nhưng đôi khi rất cần thiết.

Những chính sách như vây sẽ làm giảm nhiệt cho nền kinh tế, giảm tốc độ phát triển nhưng không giết chết nền kinh tế. Có rất nhiều nước đã áp dụng cách thức này: như Malaysia sau khủng hoảng 1997.

Theo dòng thời gian (2)

2007
Ta cần biết ta hơn nữa
Trần Hữu Dũng

Đã là một sự thật không thể chối cãi, một sự thật thần kỳ, một sự thật cả thế giới đều nhìn nhận: năm 2006 là năm “đến” của kinh tế nước ta. Tuy rằng về nhiều chỉ số phát triển và an sinh, Việt Nam vẫn còn là một nước lạc hậu, nhưng về đà tiến của chúng ta, xung lực của chúng ta, sự năng động của chúng ta thì Việt Nam quả là “top ten” (nói vậy là còn… khiêm nhường!)… Trước một tương lai đầy hứa hẹn mà cũng nhiều thử thách, nhà kinh tế thấy chúng ta cần chuẩn bị để ra luật lệ, lập chính sách, đối phó với mọi tình huống, lấp những lỗ hổng trong cơ cấu... Anh ta muốn hình dung khuôn mặt đất nước trong 10-20 năm sắp đến, và xa hơn nếu có thể. Nhà kinh tế nhìn lại các tài liệu, sách báo, báo cáo, phúc trình trong nước mà anh ta đã đọc nhiều năm qua, anh ta lên web, vào thư viện nhiều trường đại học hàng đầu trên thế giới. Và anh ta bỗng “ngộ” ra một điều: Ta cần biết ta hơn nữa!

I. Nhu cầu thông tin và phân tích

“Biết”: chúng ta cần mọi loại thông tin, thống kê, kịp thời và chính xác, nhưng “biết” còn có nghĩa là những thông tin ấy phải được sắp xếp, phân tích một cách khoa học, đưa vào luật pháp, chính sách, dự báo, cho từng khu vực, từng ngành nghề, cho cả nước, trong tương lai gần lẫn xa. Để phát triển và bảo vệ quyền lợi đất nước, ta cần phải “biết” như thế, càng rõ, càng nhiều, càng đúng, càng tốt.

● Để có những chính sách hữu hiệu để ổn định và phát triển

Cần nhấn mạnh: chúng ta đã có những chính sách tương đối thành công, song với mức phát triển ngày càng cao, cơ cấu kinh tế xã hội ngày càng phức tạp, nhu cầu phân tích từ vi mô đến vĩ mô chỉ có thể mô tả là “phi mã”! Thông tin và phân tích không chỉ là thiết yếu cho những người làm chính sách trong khu vực công, mà còn cho các nhà quản lý, kinh doanh, xuất nhập khẩu, các ngân hàng, thậm chí các hiệp hội doanh nhân, lao động…

Nhìn lướt qua báo chí, hầu như không ngày nào là không thấy vài vấn đề kinh tế ảnh hưởng đến hàng triệu người, nhiều mảng công nghiệp, dịch vụ quan trọng, “kêu gào” phân tích, khảo sát, nghiên cứu: thuế thu nhập cá nhân, giá điện, ảnh hưởng của thuế giày do EU áp đặt, Luật Cạnh tranh, Luật Đầu tư… Rõ ràng, mỗi chính sách kinh tế, tài chính, xã hội, đòi hỏi xác định sự liên hệ giữa nhiều yếu tố khác nhau, và mỗi con số trong từng quy chế, điều luật, phải được tính toán theo phương pháp khoa học hiện đại nhất, trong những giả định thích hợp với đặc thù của nước ta.

Là người dân, ai cũng hi vọng (cầu mong?) rằng các bộ, các cơ quan nhà nước (kể cả quốc hội) đã nghiên cứu kỹ lưỡng khi đưa ra những chính sách, luật lệ, song lắm lúc (nhất là khi nghe phát biểu hơi “trái tai” của vài quan chức) không khỏi băn khoăn: chất lượng những phân tích này đến đâu? Các chuyên gia đã dùng mô hình, lý thuyết nào? (Chẳng hạn, Luật Cạnh tranh cần xây dựng trên lý thuyết về cách thức cạnh tranh, mà hiện nay giới học thuật vẫn chưa nhất trí, vậy thì các chuyên gia đã dùng mô hình nào để tính cái gọi là “thị phần khống chế”?) Căn cứ trên những giả định nào? Dù biết rằng kinh tế học không phải là chính xác đến độ cho phép tiên đoán tất cả mọi việc, song đàng sau mỗi dự luật, mỗi chính sách, phải là những cố gắng tột bậc để tính toán đến chừng mực mà kinh tế học hiện đại cho phép, từ các giả định minh bạch, với những thông tin chính xác nhất. Không thể bốc những con số ra “từ không khí” (như người Mỹ hay nói), căn cứ vào các giả định ẩn mà có khi chính người phân tích cũng không ý thức.

Nghi vấn về kiến thức kinh tế ở Việt Nam không chỉ liên hệ đến các bài toán nổi cộm như ví dụ ở trên. Đôi khi nó còn là ấn tượng đọng lại sau những tranh cãi vòng vo xung quanh vài vấn đề (như “giáo dục có phải là hàng hoá?”) đã được các học giả khắp thế giới mổ xẻ mọi khía cạnh từ hàng mấy chục năm, song dường như một số người tham dự tranh luận trong nước vẫn tưởng là mới lạ, đưa ra những lập luận, ý kiến mà giới học thuật tiên tiến đã vượt qua từ lâu. Đàng khác, có những chủ đề đang thu hút sự chú ý đặc biệt của giới học thuật và quản lý toàn cầu, ví dụ vấn đề “văn hoá doanh nghiệp”, mà kinh nghiệm của Việt Nam (kinh tế chuyển tiếp từ kế hoạch sang thị trường trong bối cảnh văn hóa nho giáo) có thể có những đóng góp nhất định thì lại ít được học giả trong nước nghĩ đến để điều tra, nghiên cứu.

● Cần biết ta khi thương lượng với nước khác

“Ta cần biết ta” để ổn định và phát triển kinh tế tự thân, như trên đã nói, đã là vô cùng cần thiết, song bức xúc hơn nữa trong thời đại “hội nhập” ngày nay là nhu cầu biết ta (và biết người) khi thương thuyết với thế giới.

Khi đối diện với nước khác trong đàm phán thì lượng thông tin và khả năng phân tích là quan trọng ở hai khâu. Thứ nhất, ta phải hiểu tận tường vấn đề trên bàn nghị sự, kể cả liên hệ giữa nó và những vấn đề khác không nằm trên bàn ấy. Thứ hai, ta phải nắm vững đặc tính kinh tế của ta và của (những) quốc gia đối diện. Thật là nguy nếu chẳng những ta không biết rõ đối tác, mà còn không biết ta rõ bằng đối tác biết ta! Không thể nghi ngờ: sự chênh lệch kiến thức và thông tin (mà ta ở vào phía kém) chắc chắn sẽ gây nhiều thiệt thòi (mà, khổ thay, lắm khi ta cũng không biết!) trong các thương lượng quốc tế.

Thực vậy, sự thiếu thốn chuyên gia về kinh tế (và về luật quốc tế) có thể là yếu tố quyết định lợi thế giữa các quốc gia quanh bàn đàm phán. Có người (như nhà kinh tế nổi tiếng Jagdish Bhagwati, nguyên cố vấn cho Tổng thư ký WTO) khẳng định rằng vài nước (ông có nêu tên, nhưng người viết bài này không dám lặp lại vì hơi … nhạy cảm!) đã gia nhập WTO khá dễ dàng chỉ vì họ hạ bút ưng thuận soàn soạt mọi điều kiện mà đối tác đặt ra, bởi lẽ muốn “cãi lại” cũng không đủ chuyên viên đọc (và hiểu!) tất cả văn kiện cần ký kết, nói chi đến phân tích sự lợi hại của từng điều khoản!

Gần đây, nhiều người đã nhận thấy nhu cầu nghiên cứu thêm vì quyền lợi các quốc gia đang phát triển (để phát triển chính các nước ấy, dù có phản lại quyền lợi các nước đã phát triển). Trong một cuốn sách vừa xuất bản, Joseph Stiglitz (viết chung với Andrew Charlton), người lãnh Nobel kinh tế khá quen thuộc với Việt Nam, đề nghị rằng chính WTO phải đảm nhiệm những nghiên cứu loại này nếu thực tâm muốn tiến đến một nền thương mại toàn cầu thật sự công bằng như tôn chỉ của tổ chức ấy.

II. Phát biểu và nghiên cứu

Đáng mừng là trong vài năm gần đây, hầu hết các phương tiện truyền thông trong nước đều tăng cường mục kinh tế, góp phần nâng cao kiến thức của người dân chẳng những xung quanh vài vấn đề sôi nổi cả nước (như việc gia nhập WTO, vụ cá ba sa) mà còn về nhiều vấn đề khác nữa. Nhiều kinh tế gia Việt Nam (trong lẫn ngoài chính phủ) được phỏng vấn thường xuyên, và viết nhiều bài bình luận xây dựng, chuẩn mực. Tuy nhiên, những bài phỏng vấn và ý kiến đóng góp trên các phương tiện thông tin đại chúng, dù có lợi ích và đáng hoan nghênh, không thể thay thế những phân tích kỹ thuật, cặn kẽ, để tính toán những con số chính xác mà nhiều điều luật, chính sách, phải có.

Phân tích kinh tế có thể được chia làm ba tầng. Tầng cơ bản là những phân tích kỹ thuật cực độ, dành cho chuyên gia, đăng trong các tạp chí chuyên môn, hoặc những báo cáo của các viện nghiên cứu, các trường đại học. Tầng kế đó là các sách giáo khoa, sách tham khảo cho sinh viên, nhất là ở cấp cao học, tiến sĩ. Tuy những giáo trình này cũng nặng tính kỹ thuật, hàn lâm (như các nghiên cứu cơ bản) không ai kỳ vọng ở chúng những phát giác mới. Bản chất của giáo trình là tổng kết và hệ thống hóa kiến thức thu thập từ các nghiên cứu cơ bản và đã qua kiểm nghiệm. Tầng thứ ba là những tài liệu có tính chính sách (công lẫn tư), ứng dụng hơn là lý thuyết. Tuy nhiên, mỗi tầng, muốn vững chắc, phải được xây dựng trên tầng dưới nó. Đặc biệt, mọi phát biểu dù chỉ có tính phổ thông, cho công chúng, đều cần dựa vào những nghiên cứu cơ bản. Quan trọng hơn, những tính toán cụ thể cho chính sách, luật lệ, phải nhất quán với (và tận dụng) những nghiên cứu cơ bản, nếu không thì những chính sách và luật lệ ấy chỉ là ngẫu hứng, tùy tiện, thậm chí phản hiệu quả và mâu thuẫn.

Phải nhìn nhận rằng làm nhà kinh tế Việt Nam lúc này không phải dễ. Không ai thực sự “yêu nghề” mà không muốn làm những nghiên cứu thâm sâu. Song những nghiên cứu như thế rất tốn thời giờ, công của, và nhiều phụ trợ khác. Đối trọng với ước muốn ấy là thiên chức “trí thức công” (public intellectual) mà xã hội mong mỏi ở nhà kinh tế: đóng góp ý kiến về những vấn đề đương thời, nhiều khi không hoàn toàn trong chuyên môn của họ. Sự giằng co này không phải mới, và không chỉ ở nước ta. Ở các quốc gia tiền tiến, vai trò “trí thức công” thường gây nhiều tranh luận, và tùy vào truyền thống trí thức của xã hội liên hệ. Ở nước ta, khi mà dân trí còn chưa cao thì trách nhiệm của trí thức nói chung là còn nặng nề, bị nhiều giằng xé hơn nữa.

Các chuyên gia (nhất là thuộc những ngành trực tiếp liên hệ đến chính sách) trong một nước mà trí thức tương đối còn hiếm, sẽ là “chỗ đặt” của nhiều (lắm khi quá nhiều!) kỳ vọng xã hội, và do đó phải vô cùng cẩn trọng khi phát biểu. Đàng khác, một nhà khoa học – nhất là khoa học xã hội như kinh tế – không thể chỉ phát biểu cho công chúng mà còn phải thật sự “sống” trong chuyên môn của mình để tránh tụt hậu trong kiến thức, xơ cứng trong lập luận, lão hoá trong tư duy. Người ấy phải luôn cập nhật kỹ năng, và làm gương cho các bạn trẻ trong sinh hoạt và tác phong nghề nghiệp. Tìm một vị trí tối ưu giữa tháp ngà hàn lâm và thực tế đời sống là một thách thức không nhỏ.

III. Công khai, độc lập, và đa dạng

Nếu nhìn nhận là chúng ta cần nhiều nghiên cứu dầy chiều sâu, chuẩn mực lý thuyết, cực độ kỹ thuật, thì câu hỏi kế tiếp sẽ là: cơ chế nào có thể phát huy những nghiên cứu như vậy?

● Công khai

Hiển nhiên, người làm chính sách luôn luôn cần những phân tích, phúc trình nội bộ (có thể là “mật”) từ các cơ quan chính phủ, các viện nghiên cứu, v.v. Mặt khác, như mọi ngành khoa học, kinh tế học chỉ có thể tiến triển trong tinh thần trao đổi xây dựng, khách quan. Do đó, để bảo đảm chất lượng các phân tích làm nền tảng cho chính sách, luật lệ, cần nghĩ đến việc “bạch hoá” chúng (trong chừng mực an ninh quốc gia cho phép).

Trao đổi công khai những phân tích về các vấn đề hệ trọng giữa chuyên gia nhà nước và ngoài chính phủ sẽ có lợi cho cả hai bên. Một mặt, cộng đồng khoa học có thể đánh giá lập luận, phương pháp tính toán của các chuyên gia nhà nước. Mặt khác, các chuyên gia nhà nước cũng cần lấy cảm hứng và tìm tham khảo từ những nghiên cứu phát xuất từ các đại học, các viện nghiên cứu độc lập, các nhà kinh tế ngoài hệ thống công quyền. Không ai có thể biết tất cả, nghĩ ra mọi tình huống, kịch bản, nhất là khi hầu hết lãnh vực học thuật đều không ngừng chuyên biệt hoá, tình hình thế giới ngày càng phức tạp, như ngày nay.

Tiến trình trao đổi giữa các chuyên viên trong và ngoài chính phủ cũng đóng góp vào bầu không khí dân chủ, gây hưng phấn cho xã hội nói chung và giới học thuật nói riêng.

● Độc lập

Khối lượng nghiên cứu thật sự khách quan phải đến từ nhiều nguồn, và gồm một số đáng kể công trình của những nhà nghiên cứu chọn lựa đề tài với chủ đích thuần tuý khoa học. Nói cách khác, ngoài những báo cáo, phúc trình từ các bộ, các viện, các ngân hàng, các tổ chức quốc tế, còn cần những nghiên cứu mà đề tài và mục đích không theo đơn “đặt hàng” của bất cứ ai và không chỉ nhằm cho việc sử dụng của tổ chức hoặc cơ quan nào đó.

Không bị chi phối bởi yêu cầu thực dụng tức thời, hoặc bức xúc của một giai đoạn chính trị nhất định, những nhà nghiên cứu hoàn toàn độc lập mới có thể đào sâu các vấn đề thật căn bản, so sánh những cách đổi mới thể chế, phát hiện những kịch bản tiến hoá của đất nước. Chỉ cần ngẫm nghĩ ít lâu là có thể kê ra hàng trăm đề tài như thế.

Tất nhiên, để tự do trong chọn lựa đề tài và phương pháp, nhà nghiên cứu không thể lệ thuộc vào sự tài trợ của nhà nước hoặc doanh nghiệp. Nói cách khác, phải đa dạng hoá cơ chế xã hội khuyến khích những công trình nghiên cứu độc lập, chẳng hạn như dựa vào chất lượng và số lượng nghiên cứu để thăng thưởng, cho vào biên chế, v.v.

Nói cho cùng, nghiên cứu là thú vui tinh thần trước tiên cho nhà khoa học. Phần thưởng vô giá của khoa học là sự khám phá. Sẽ là ảo tưởng nếu nghĩ rằng có quốc gia nào “nuôi” các nhà khoa học để họ muốn làm gì thì làm. Nhà khoa học phải có can đảm không … xin tiền nhà nước. Mặt khác, trong một xã hội lành mạnh, văn minh, nhà khoa học có thể sinh nhai bằng những nghề gần gũi với nghiên cứu, như dạy học, viết sách, diễn thuyết… Và xã hội phải quan tâm để là như thế.

● Đa dạng

Kinh tế học có nhiều trường phái. Không kể đến sự khác nhau giữa kinh tế học Mác và kinh tế học gọi là “thị trường”, ngay trong kinh tế học thị trường cũng có nhiều chi phái mà “tân cổ điển” chỉ là một. Chúng ta cần nghe những tiếng nói khác nhau.

Hãy lấy làm ví dụ hai cụm đề tài cực kỳ quan trọng: (a) vai trò của nhà nước, và (b) chính sách kinh tế đối ngoại. Như ai cũng biết, ý kiến trong giới kinh tế có thể rải từ quan điểm cho rằng vai trò nhà nước càng nhỏ càng tốt, đến quan điểm cho rằng nhà nước phải là khống chế trong kinh tế, nếu không ở khâu sở hữu thì cũng ở khâu điều tiết, chỉ đạo. Phải tạo một không khí tranh luận lành mạnh, không giáo điều, không có “vùng cấm”, để những ý kiến này được đối chiếu, thẩm định. Về mặt kinh tế đối ngoại cũng thế: có nhiều trường phái rất khác nhau về chính sách bảo hộ, về sự nên-hay-không kiểm soát các luồng vốn nước ngoài, v.v.

Sự đa dạng ấy, với những lập luận lắm khi quyết liệt, song ở trình độ khoa học cao, chưa thấy có trong giới kinh tế Việt Nam (so sánh, trong khu vực, với giới kinh tế Hàn Quốc, chẳng hạn, đừng nói chi đến các nước mà sinh hoạt trong giới kinh tế rộn rịp hơn ta nhiều lần, như Ấn Độ, Trung Quốc…). Chính vì có nhiều tiếp cận, nhiều trường phái khác nhau, ta cần khuyến khích những “lò suy nghĩ” (think tank) vô vị lợi, ngoài chính phủ, và nhất là (theo kinh nghiệm nhiều nước) nghiên cứu trong các đại học. Đây là một vấn đề chỉ thực hiện được trong một môi trường nghiên cứu công khai (công trình được đăng trên các tạp chí kinh điển, các hội thảo chuyên môn, mở cửa cho mọi người).

Tất nhiên (ít ra là trong tương lai gần) chúng ta không thể đòi hỏi Việt Nam sản xuất những “siêu” kinh tế gia, mở đường cho cả một học thuyết như Karl Marx, Adam Smith, hoặc thậm chí những nhà kinh tế có ảnh hưởng quốc tế cỡ như Raul Prebisch, Amartya Sen. (Đàng khác, những vị ấy là chung của nhân loại, không cớ gì ta phải đòi có người mang quốc tịch Việt Nam!) Tuy nhiên, so với vài quốc gia trong vùng như Hàn Quốc, Ấn Độ, chúng ta cũng rất thiếu những phân tích vĩ mô sâu sắc, có tính nền tảng về kinh tế, xã hội, và vai trò của chính phủ. Nhưng, theo nhận xét của người viết bài này, có lẽ sự thiếu sót nổi bật nhất là những nghiên cứu vi mô trình độ cao, sử dụng những lý thuyết và kỹ thuật phân tích (kinh lượng học) hiện đại nhất.

IV. Ta phải làm lấy

Phải nhìn nhận rằng chúng ta đã nhận được nhiều giúp đỡ quý báu của các nhà kinh tế ngoại quốc (thường là với các cộng sự viên người Việt) do các nước bạn, các tổ chức quốc tế chủ xướng và tài trợ. Và chúng ta thực tình mong mỏi sẽ được họ nghiên cứu nhiều hơn nữa. Câu hỏi sẽ là: Tại sao chúng ta không “khoán” cho các nhà kinh tế nước ngoài (hay giao cho họ một phần lớn) việc nghiên cứu nước ta?

Câu hỏi này hầu như mọi nước nhỏ, kém phát triển, đều nghĩ đến. Hiển nhiên, kinh tế học là một khoa học, và phương pháp khoa học thì đâu cũng thế, không biên giới, không mang tính dân tộc chủ quan. Tuy nhiên trên thực tế nghiên cứu thì có hai vấn đề vẫn rất “chủ quan”, đó là (a) chọn lựa đề tài, và (b) mức quyết tâm tìm kiếm giải pháp đặc thù cho một quốc gia, vì lợi ích quốc gia ấy. Phần lớn những báo cáo, phúc trình của các chuyên gia nước ngoài chỉ ở mức “chung chung”, và nhằm đáp ứng “đơn đặt hàng” của các tổ chức quốc tế, hay của một nước khác (thường là nhằm mục đích tìm hiểu môi trường đầu tư cho họ, hoặc khả năng hấp thụ viện trợ của Việt Nam). Nhìn từ phía ta, chúng không phải luôn luôn là những vấn đề đầu “bảng bức xúc” của Việt Nam.

Một thực tế nữa là đa số các chuyên viên ngoại quốc đã nghiên cứu nhiều nước khác trước khi họ đến Việt Nam (nếu không thì họ lại quá thiếu kinh nghiệm về phát triển!), do đó không khỏi nhìn Việt Nam qua lăng kính kinh nghiệm mà họ có ở nước khác. Phần lớn kinh nghiệm này là rất quý, song những khuyến cáo của họ, trớ trêu thay, không tận dụng những tiềm năng đặc thù của nước ta. Họ cũng khó đề cập đến những mặt liên quan đến địa chính trị, hay địa kinh tế, có tính nhạy cảm trong bang giao quốc tế (có khi dính líu đến chính nước họ!).

Chúng ta chưa phát triển, song không giống nước chưa phát triển ở châu Phi, chẳng hạn. Chúng ta chuyển đổi, nhưng khác chuyển đổi ở Trung Quốc hoặc các nước Đông Âu. Chúng ta ở Đông Nam Á, nhưng không giống Thái Lan, Indonesia, Philippines, vv. Chúng ta khác họ về tiềm lực lẫn nhược điểm, và một phần (lớn?) tiềm lực và nhược điểm này có cội nguồn trong căn tính dân tộc, cơ cấu xã hội, và lịch sử của chúng ta. Người nước ngoài có thể thấy vài tiềm lực và nhược điểm mà chúng ta không thấy, song chúng ta cũng có thể thấy nhiều cái mà người nước ngoài không thấy, nhất là những tiềm lực xuất phát từ cái “hồn” của dân tộc. Nghe thì có vẻ lãng mạn, huyền bí, nhưng, nghĩ lại đi, trước ngày đổi mới, bao nhiêu nhà kinh tế nước ngoài đã tiên đoán sự thành tựu của chúng ta trong mấy chục năm qua, thậm chí tiên đoán là chúng ta có khả năng đổi mới?

Và, nên để ý, giáo trình kinh tế học mà những chuyên gia ngoại quốc đã tiếp thu ở các trường đại học của họ (mà đa số là thuộc hàng đầu trên thế giới, nên nhìn nhận như vậy) thường là nặng về tân cổ điển, xoay quanh cá nhân (thay vì tập thể), trọng điểm là thị trường (trong bối cảnh tây phương), mà nhược điểm là rất ít quan tâm đến các yếu tố thể chế, xã hội, và lịch sử. Song chính những yếu tố này lại có thể là quan trọng nhất để tìm hiểu và đề nghị giải pháp cho nước ta.

Nếu chúng ta cần đến các nhà kinh tế nước ngoài thì trước hết chúng ta nên biết cách đặt vấn đề để họ nghiên cứu, điều tra cho ta. “Đặt vấn đề” không có nghĩa “sần sùi” là “đặt hàng”, song là gợi cho họ những đề tài vừa lý thú cho họ vừa có ích cho ta. Ngoài những đề tài tổng quát (như tăng trưởng, lạm phát), hoặc những đề tài cần cho một chính sách cụ thể (như thuế má), còn có những đề tài mà chỉ những người tha thiết đến tương lai dân tộc (kể cả những đề tài liên quan đến cải cách thể chế) mới thực sự “bức xúc”. Tương tự, ngoài một số vấn đề ở cấp xí nghiệp có thể dùng những bài học rút ra trực tiếp từ các mô hình có sẵn (“off-the-shelf”) ở nước khác, còn có những vần đề trong từng khu vực kinh tế (công, nông nghiệp, dịch vụ, tài chính v.v) cần những nghiên cứu riêng cho Việt Nam.

V. Khả năng tiếp thụ của người làm chính sách và vai trò của báo chí

Dù có những nghiên cứu thâm sâu về Việt Nam cũng không bảo đảm là chính sách kinh tế của ta sẽ tốt hơn. “Chất lượng” tối hậu của chính sách là tuỳ thuộc vào các nhà lãnh đạo mà, cũng nên thông cảm với họ, dù có đánh giá cao các nghiên cứu kinh tế, cũng bị ràng buộc bởi những vấn đề khác, có những mục tiêu khác ngoài kinh tế, mà nhà kinh tế thuần tuý không nghĩ đến.

Không ai ngây thơ đến độ tin rằng chính sách kinh tế của một quốc gia (ngay quốc gia đã phát triển) là luôn luôn dựa trên những phân tích khoa học, khách quan. Trong quy trình làm chính sách, bao giờ yếu tố chính trị, xã hội (và quốc phòng nữa) cũng là quan trọng – có khi là yếu tố quyết định – và sẽ được hội nhập ở một khâu nào đó. (Lại nữa, không luật lệ, chính sách nào tránh được khâu “cò kè bớt một thêm hai” giữa các thành phần, quyền lực khác nhau trong xã hội.) Dù vậy, trước đó, các nhà kinh tế phải cố gắng tận lực – và được có cơ hội – đưa ra những phân tích khách quan, khoa học, những dự báo cho từng kịch bản chính sách. Sau đó, nếu các chính trị gia (chính phủ, quốc hội…) có quyết định không dựa trên những phân tích ấy thì là chuyện khác, và những người này phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, tổ quốc.

Một khó khăn rất lớn cho những người nghiên cứu kinh tế Việt Nam là sự thiếu thốn thống kê chính xác và kịp thời, cũng như sự nhập nhằng trong bộ máy làm chính sách kinh tế (giữa các bộ, giữa trung ương và địa phương, v.v.). Sự thiếu minh bạch về các đòn bẩy quyền lực sẽ ngăn cản những đề nghị cụ thể liên hệ đến những ràng buộc và hạn chế thể chế.

Cũng xin có vài hàng về vai trò của báo chí. Như đã nói, báo chí đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền bá và thúc đẩy nghiên cứu qua các bài phỏng vấn chuyên gia Việt Nam và quốc tế. Tất nhiên, một cuộc phỏng vấn thành công, có ích cho bạn đọc, tuỳ thuộc ở câu trả lời, mà câu trả lời lại tuỳ thuộc vào câu hỏi! Nhà báo cần chuẩn bị thật kỹ câu hỏi để “mớm” cho chuyên gia làm sáng những khía cạnh thiết thực nhất của một vấn đề. Tránh những câu hỏi “chung chung”. Và một điều quan trọng nữa: Không phải bất cứ “giáo sư”, “tiến sĩ” nào cũng là chuyên viên về bất cứ vấn đề gì: một kỹ sư không phải là một nhà kinh tế, một nhà kinh tế không nhất thiết tinh thông xã hội học, thậm chí một nhà kinh tế vi mô chưa chắc là rành chuyện hối suất, ngân hàng, v.v.. Không chọn lựa chuyên viên đúng ngành để phỏng vấn, lắm khi báo chí chỉ gây hoang mang thêm cho công luận.

Thêm nữa, đọc các tạp chí kinh tế chuyên ngành trên thế giới sẽ phát giác hiện tượng đáng hổ thẹn này: ngay các quốc gia láng giềng của chúng ta (như Thái Lan, Indonesia) cũng có nhiều nghiên cứu thâm sâu bởi các nhà kinh tế của họ về nước họ, hơn hẳn chúng ta! Cho đến nay, số bài về kinh tế Việt Nam trên các tạp chí hàng đầu thế giới mỗi năm ít khi hơn số ngón trên một bàn tay. (Chính phát giác này là nguyên do thúc đẩy người viết bài mà bạn đang đọc!) Hiện tại, Việt Nam hầu như chưa có tạp chí kinh tế (nói rộng, gồm cả các ngành “lân cận” như tài chính, quản lý, kinh doanh, v.v) vào hạng “quốc tế” – nghĩa là, đa số bài đều trong đó đều có thể được vài tạp chí uy tín trên thế giới nhận đăng, hoặc có sự cộng tác thường xuyên của các tác giả nước ngoài. So với vài quốc gia trong vùng như Singapore, Hàn Quốc (đừng nói chi đến Ấn Độ, Trung Quốc, thậm chí Bangladesh!)... nước nào cũng có ít nhất 4-5 tạp chí như vậy, thì đây không thể là một tình trạng làm Việt Nam hãnh diện.

Cuối cùng, phải nhận rằng “ta cần biết ta hơn nữa” không chỉ để hoạch định chính sách tăng trưởng, điều tiết và ổn định kinh tế, hay đối ngoại, bởi vì, tuy chỉ là một (trong nhiều) thành tố của công cuộc phát triển, nghiên cứu là biểu hiện, là sinh hoạt căn tính của một xã hội văn minh. Phát triển không chỉ là tạo một đời sống vật chất sung mãn, nó còn là văn minh trong suy nghĩ, trong quản lý, trong chính sách. Nói gọn: “ta cần biết ta hơn nữa” chính vì tiền đồ của dân tộc.

Trần Hữu Dũng
Dayton
7/1/2007


Nghĩ về chúng ta: Hiện đại và dân tộc tính
Trần Hữu Dũng

Phát triển kinh tế và uy tín quốc tế trong những năm qua của nước ta, cộng với tiện nghi trong đời sống do công nghệ tiên tiến đem lại, đã gây ra những biến chuyển chóng mặt trong sinh hoạt và nhận thức của hầu hết mọi người Việt Nam. Mặt khác, chúng ta cũng bị bao phủ bởi bao nhiêu chuyện hàng ngày: từ những vụ tham nhũng khủng khiếp, những vấn đề bức xúc trong giáo dục, y tế, giao thông, những tệ nạn xã hội, cho đến những sự cố trọng đại về chủ quyền, về lãnh thổ... làm tâm thức chúng ta khó thể không chao đảo.

Phải nghĩ sao? Bắt đầu từ đâu? Nhìn từ một góc cạnh căn bản thì dường như có sự căng thẳng giữa “cái bây giờ” – tạm gọi là tính hiện đại – và “cái của ta”, nói gọn là dân tộc tính. Phải nghĩ về liên hệ giữa hai phạm trù này như thế nào? Có thể chăng một sự hòa hợp giữa hai phạm trù ấy?

I. Hiện đại và thời thượng

Khi nói về hiện đại, có lẽ điều trước hết là phải tách nó ra khỏi những khẩu hiệu thời thượng. Cần cưỡng lại phản xạ dùng những cụm từ “thế giới phẳng”, “toàn cầu hóa”, “hội nhập”...

Tất nhiên, những cụm từ này không là vô ích, nếu ta thực sự ý thức tính phức tạp của chúng và vâng, hành trang ý thức hệ của chúng nữa. Trong mọi trường hợp, chúng chỉ nên là khởi điểm cho những suy nghĩ sâu sắc hơn, nhất là nhìn từ nước ta. Nguy hiểm là, quá nhiều khi, chúng được dùng như những khẩu hiệu thế chỗ cho phân tích, một cách che lấp sự lười biếng trí thức. Thực vậy, nên nhớ rằng những cụm từ này xuất phát từ phương Tây, và tuy những người đặt ra chúng (như nhà báo Thomas Friedman với ý niệm “thế giới phẳng”) là nhiều thiện chí, chúng không thoát khỏi một phạm trù căn bản: đó là những ý niệm nhìn qua lăng kính văn hóa (và quyền lợi kinh tế!) tây phương. Chẳng hạn, thử nghĩ xem: “Hội nhập” là gì? Phần nào là tích cực, phần nào là một tiến trình không cưỡng được? Hội nhập, theo nhiều người, không những có nghĩa là mở cửa rộng rãi để buôn bán với nước ngoài, đón nhận đầu tư, nhưng còn là chấp nhận những “giá trị của thế giới”. Nên nhớ rằng quốc tế là một cộng đồng với nhiều hệ thống giá trị. Hội nhập là mở cửa với thế giới, nhưng đó là cái cửa hai chiều: vào và ra. Hội nhập đúng nghĩa phải gồm một sự chọn lọc những giá trị tốt từ bên ngoài (không nhất thiết phải từ phương Tây), đồng thời là một cố gắng đầy tự tin để quảng bá giá trị của ta (những giá trị tiềm ẩn trong dân tộc tính) với thế giới. Thiếu cảnh giác, những mỹ từ đó sẽ ru ta vào một giấc hoang mơ...

Tương tự, nhiều người nghĩ đến “hiện đại” như một cuộc đua giữa các quốc gia, hoặc là thứ hạng của Việt Nam trên thế giới. Tất nhiên, ai cũng mừng khi thấy chỉ số cạnh tranh của ta năm nay cao hơn năm ngoái, cũng buồn khi tham nhũng ngày càng bị quốc tế cho là nhiều. Tuy nhiên, nghĩ cho cùng, điều quan trọng không phải là những con số thống kê, hay kết quả của vài cuộc thăm dò doanh nhân nước ngoài, nhưng là hiện trạng mà mỗi người trong chúng ta nhận thấy ràng ràng trong đời sống hàng ngày của bản thân. Về tham nhũng chẳng hạn, mọi người dân Việt Nam đều biết nó là đến bực nào, đã lên hay xuống trong thời gian qua. Ta không cần dư luận nước ngoài mới biết (dù rằng những cuộc thăm dò ấy có ích trong chừng mực chúng ảnh hưởng đến quyết định làm ăn của người nước ngoài ở nước ta).

Chúng ta nhìn quốc tế để biết khả năng một xã hội, nhất là những quốc gia có nhiều tương đồng với ta, để học hỏi, để biết cái gì mà một nước như ta có thể làm được. Chúng ta nên nhìn nước khác để nhận ra những hụt hẫng của mình, nhưng đó là những bài học vi mô, và ta phải nhìn chúng để tìm giải pháp cho các vấn đề cụ thể chứ không chỉ để buồn bã so bì (hay tự mãn!). Khi có những tiến bộ vi mô như vậy thì chắc chắn chúng ta sẽ rất ngạc nhiên vì sự tiến bộ vĩ mô của mình. Tất nhiên giữa các quốc gia chẳng bao giờ là không có những cạnh tranh, thậm chí tranh chấp ... song mục tiêu căn bản của chúng ta phải là tạo cho dân ta một đời sống ấm no, hạnh phúc... Ta không thể để mình bị “choáng mắt” “hoảng lọan” vì những con số tuy giật gân nhưng ít ý nghĩa, và nhất là khi chúng không giúp ta tìm giải pháp nào cho một vấn đề cụ thể.

II. Cái hiện đại của ta

Nên nhớ rằng, nếu không để ý, ta sẽ định nghĩa “hiện đại” theo cái nhìn của một nền văn hóa khác. (Gần đây, triết gia Pháp Bernard-Henri Lévy đã phải nhắc lại điều này để phản bác một bài trên tuần báo Time của Mỹ cho rằng “văn hóa Pháp đã chết”!). Không khéo, chúng ta sẽ lẫn lộn hiện đại hóa và tây phương hóa.

Thực vậy, hiện đại hóa mà thiếu dân tộc tính sẽ là tha hóa. Hiện đại không có nghĩa là xóa bỏ tính cá biệt của nhân thân, hay rộng hơn là của dân tộc. Dù sẽ trở thành công dân của thế giới, chúng ta đến từ lịch sử, quê hương ta, cũng như người quốc gia khác đến từ lịch sử, quê hương họ. Sự phong phú của đời sống hiện tại không phải có được bằng cách đồng nhất hóa mọi người (một thế giới như thế sẽ nhạt nhẽo biết bao!), nhưng bằng sự mỗi người đóng góp cái cá biệt của mình vào cái chung của nhân loại, và nhìn nhận (thậm chí tôn vinh) cái cá biệt của người khác. Hiện đại hóa dân tộc tính (nếu có thể nói như vậy) là một hành trình gay go, cần nhiều suy nghĩ thấu đáo, khách quan. Ta không sô vanh cuồng tín nhưng cũng không chấp nhận vô điều kiện những lề lối ngoại lai như tấm vé để “hội nhập”.

Có quả là chúng ta (như thế giới “hiện đại”) đang chạy theo vật chất quá đáng mà quên đi những giá trị nhân văn (không nhất thiết cá biệt của Việt Nam) – những giá trị thiết yếu cho “chất lượng đời sống”? Chúng ta có thói quen nói những điều đó như là nghĩa vụ, như trách nhiệm của chúng ta (đối với thế hệ trẻ, chẳng hạn), nhưng thật ra nó còn hơn thế nữa. Nó là nghĩa vụ của chính chúng ta đối với chúng ta, của con người đối với con người. Lịch sử, cần khẳng định, là một cấu tố của chính đời sống hôm nay, không phải là “cái khác”, mà là “cái này”, của cá nhân ta, hôm nay.

Hiện đại cũng không phải là một đặc tính của thế hệ, của tuổi trẻ. Ấn tượng thiển cận này, nếu có, hẳn là xuất phát từ sự đánh đồng phong cách hiện đại với sự quen thuộc với văn hóa giải trí, với sự thông thạo sử dụng những máy móc, trò chơi điện tử. Bất cứ xã hội hiện đại nào, bất cứ lúc nào cũng là sự chung sống của nhiều thế hệ “gối đầu” lên nhau, Hiện đại, ở thế hệ đi sau, nằm ở cách họ đối xử với thế hệ đi trước (mà chính họ sẽ trở thành!), và cũng là ở thế hệ đi trước đối với thế hệ sau. Tùy theo độ tuổi, tính hiện đại có thể khác nhau chút ít về bản chất, nhưng không nhất thiết ở cường độ, và chắc chắn là không xung khắc. “Lớp già” cũng đóng một vai trò thiết yếu trong ký ức của dân tộc, họ là tích tụ của những kinh nghiệm sống, lịch sử hình thành của nước ta... Tính hiện đại của một xã hội là gom nhập tính hiện đại của mọi thế hệ, mọi thành phần trong xã hội ấy. Nói cụ thể hơn, một xã hội mà thế hệ này xem thế hệ kia là không quan trọng, thành phần này coi rẻ thành phần khác, là một xã hội ... không hiện đại, trong cái nghĩa tốt đẹp của danh từ này.

Tính hiện đại của dân tộc cũng không dừng lại ở biên giới địa lý bởi vì nó bao gồm cả người Việt trong nước lẫn ở nước ngoài. Người Việt ở nước ngoài đóng góp vào sự nghiệp hiện đại hóa của quê hương, không chỉ ở “chất xám”, hoặc “kiều hối”, nhưng còn trong vai trò viễn thám văn hóa. Mặt khác, họ cũng đặt nhiều vấn đề (mà lắm lúc họ cũng không ý thức) về dân tộc tính, cần suy nghĩ.

III. Văn hóa và trí thức

Rõ ràng, xã hội hiện đại đặt ra nhiều vần đề bức xúc, cần suy nghĩ, và chính nhu cầu này làm nổi bật một sự hụt hẫng trầm trọng hiện nay của chúng ta, đó là sự nghèo nàn sinh hoạt văn hóa mà giới trí thức phải gánh chịu phần lớn trách nhiệm. Đặt bên cạnh những sinh hoạt kinh tế sôi nổi, những phồn vinh về vật chất, những thắng lợi trên chính trường quốc tế, thì đời sống văn hóa của chúng ta hầu như thiếu tiến bộ tương xứng, thậm chí nghèo nàn, ít nhất cũng là quá tĩnh lặng. Đó là một tĩnh lặng đáng lo, bởi vì, khi mà tiến trình “hiện đại hóa” đang vùn vụt như vũ bão, và khi mà đầu máy của tiến trình ấy là thương mại, thì trách nhiệm của người trí thức để chấn chỉnh, tạo một đối trọng cho văn hóa tiêu dùng bằng một nền văn hóa khác, “hướng thượng” hơn, là không gì cần thiết bằng. Chính sự thiếu vắng một kháng thể mạnh mẽ cho thứ văn hóa tiêu dùng, hưởng thụ, là một trong những nguyên nhân của sự rệu rã xã hội hiện nay.

Văn hóa dân tộc không chỉ là di sản mà còn là những sinh họat đương thời. Và tuy nó là thành quả chung của cộng đồng, những người được coi là “trí thức” có một trách nhiệm đặc biệt trong sinh hoạt này. Trọng trách ấy người trí thức phải nhận lãnh, nhưng nó cũng đòi hỏi nhà nước mở rộng, và xã hội khuyến khích, “không gian” sáng tạo, phát biểu, tranh luận. Những sinh hoạt ấy phải được xem như là cốt yếu để huy động nội lực cho phát triển, và thành quả của chúng chính là nhằm bảo tồn dân tộc tính, xương sống của thế đứng quốc gia trong bang giao quốc tế.

Trách nhiệm trí thức là đặc biệt quan trọng đối với tuổi trẻ. Ở bất cứ xã hội nào thì tuổi trẻ bao giờ cũng bị cuốn hút vào luồng văn hóa đại chúng, thời thượng. Nhưng đừng trách họ (như thói quen của mọi thế hệ già), và cũng đừng giảng luân lý. Tuổi trẻ phải được hướng dẫn không qua những bài giảng luân lý khô khan (và chiếu lệ!) nhưng mà do sự truyền lại kinh nghiệm của người đi trước, cụ thể là những tấm gương trong tác phong, trong sinh hoạt trí thức, trong cảm quan nghệ thuật. Muốn thế, người trí thức ở thế hệ đi trước phải tự vấn, chính họ phải luôn luôn trau giồi, cập nhật hóa kiến thức, theo dõi biến chuyển thời sự, sinh hoạt tư tưởng.

IV. Độc lập, phồn vinh và bền vững

Hiện đại là một tiến trình, một cách sinh hoạt, hơn là một trạng thái. Đó là một tư duy chấp nhận thay đổi, tôn trọng cái cá biệt của người khác, nhưng phóng đi từ ý thức rất rõ về mình, về cộng đồng và lịch sử của mình. Tuy nhiên, cần nhớ rằng hiện đại không có nghĩa là những tranh chấp quốc tế không còn nữa (như những mỹ từ “thế giới phẳng”, “hội nhập”... thường làm ta quên). Chủ nghĩa dân tộc vẫn còn là động cơ đằng sau thương mại, bang giao quốc tế. Bất cứ nước nào cũng bảo vệ quyền lợi, sự tự do, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của mình. Chúng ta hiếu hoà nhưng qua những năm hi sinh xương máu để giành độc lập, thống nhất đất nước, ta không bao giờ quên được điều ấy.

Hiện đại phải đi trong tinh thần dân tộc. Dân tộc tính, cụ thể là sự đoàn kết quốc gia, không chỉ là một nội lực cốt yếu để bảo vệ độc lập và chủ quyền của đất nước (và không có độc lập và chủ quyền thì mọi thứ khác đều vô nghĩa) nhưng, thực tiển hơn, còn là một yếu tố để phát triển kinh tế, để giao lại cho những thế hệ tương lai một nước Việt Nam mà chúng ta không hổ thẹn.

Trần Hữu Dũng
18-12-2007